Ứng dụng của hệ thống ecmo

(Extracorporeal Membrane Oxygenaration Therapy)

I/ GIỚI THIỆU

Như tên đã nêu ECMO = Extracorporeal Membrane Oxygenaration Therapy là liệu pháp oxy hóa máu màng ngoài cơ thể. ECMO là hệ thống liệu pháp hổ trợ các tình trạng suy tim, suy hô hấp hoặc kết hợp suy tim và suy hô hấp. Do đó, máy ECMO có khả năng thay thế tim và phổi của bệnh nhân. Còn có tên gọi khác là máy tim-phổi nhân tạo.

ECMO được ghi nhận lần đầu vào năm 1974. Từ năm 2006 đến 2011, việc sử dụng ECMO đã gia tăng 433% tại riêng nước Mỹ. Vòng tuần hoàn điển hình của ECMO gồm một máy bơm máu, thiết bị tạo oxy dạng màng (membrane oxygenarator) hoạt động như một lá phổi nhân tạo, hệ thống ống dẫn, một bộ phận chuyển nhiệt (heat exchanger) cũng như một ống dẫn máu ra và một ống đưa máu về (canulle). Đây là hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể trực tiếp tạo oxy và thải CO2 từ máu bệnh nhân bằng cách dùng một máy phổi nhân tạo (oxygenator). Máy phổi nhân tạo (oxygenator) thực chất là thiết bị trao đổi khí sử dụng một màng bán thấm nhằm tách biệt buồng máu và buồng khí. Máy ECMO được kết nối với bệnh nhân thông qua các ống cannula. Những ống này được đặt vào trong các động tĩnh mạch lớn ở chân, cổ hay ngực. Máy ECMO bơm máu từ cơ thể của bệnh nhân đến phổi nhân tạo (oxygenator). Vì vậy, nó sẽ thay thế chức năng phổi của người bệnh. Sau đó máy ECMO sẽ bơm máu trở lại cho bệnh nhân với lực bơm bằng với công co bóp của tim, tức là sẽ thay thế chức năng của tim. Máy ECMO được điều khiển bởi một chuyên gia ECMO, hoặc một điều dưỡng hoặc một bác sĩ chuyên khoa hô hấp đã được đào tạo chuyên sâu về ECMO. Các chuyên gia sẽ điều chỉnh những cài đặt trên máy để đảm bảo cung cấp cho bệnh nhân đầy đủ chức năng tim và phổi mà họ cần.

II/ CÁC MODES CỦA ECMO

Có hai modes ứng dụng ECMO : ECMO tĩnh mạch-tĩnh mạch (VV-ECMO=

venovenous extracorporeal membrane oxygenation) và ECMO động mạch-tĩnh mạch (VA-ECMO= venoarterial extracorporeal membrane oxygenation).

VV-ECMO là một quá trình dẫn máu từ một tĩnh mạch trung tâm ra ngoài và trả máu về một tĩnh mạch trung tâm khác nhờ thiết bị chỉ cung cấp trao đổi khí. Bằng liệu pháp bắt cầu không qua phổi, cơ thể vẫn nhận được oxy đầy đủ để phổi bệnh nhân được nghĩ ngơi trong tình trạng suy hô hấp. Thông thường. VV-ECMO được tiến hành trên hai vị trí tĩnh mạch khác nhau, một tĩnh mạch đùi để dẫn máu ra và tĩnh mạch đùi kia để nhận máu về. Nếu có ống dẫn hai nòng (bicaval dual-lumen cannula) chỉ cần sử dụng tĩnh mạch cảnh trong cũng được.

VA-ECMO là quá trình mà máu được dẫn ra từ hệ thống tĩnh mạch và được bơm vào hệ thống động mạch nhằm hổ trợ cả hai hệ hô hấp và tuần hoàn. Kỹ thuật này dành cho những bệnh nhân có tổn thương chức năng tim kèm hay không kèm khiếm khuyết sự trao đổi khí. VA-ECMO thường được lấy máu ra từ tĩnh mạch đùi và trả máu vào động mạch đùi.

tim-phoi-nhan-tao

Nguyên lý hoạt động của ECMO

III/ ỨNG DỤNG CỦA ECMO

1/ Suy tuần hoàn:

  • Shock tim không do nhồi máu cơ tim.
  • Shock tim do viêm cơ tim toàn phát (fulminant myocarditis).
  • Shock tim do nhồi máu cơ tim cấp.
  • Shock nhiễm trùng kết hợp với bệnh lý cơ tim.
  • Thuyên tắc phổi.
  • Thay thế tim phổi trong cấy thiết bị trợ thất (VAD=ventricular assist device) hoặc ghép tim.
  • Phòng ngừa suy thất phải sau cấy VAD.
  • Tăng áp động mạch phổi.

2/ Suy hô hấp:

  • Hội chứng nguy kịch hô hấp cấp ARDS (Acute Respiratory Distress Syndrome).
  • Suy hô hấp có tăng thán khí (Hypercapnic Respiratory Failure)
  • Ghép phổi.
  • Cấp cứu ngưng hô hấp tuần hoàn (CPR): Nghiên cứu 2013 chứng minh rằng nhóm có ECMO dùng trong CPR thì tốt hơn với hai năm sống còn có tổn thương não thấp nhất so với nhóm CRP thông thường.

IV/ BIẾN CHỨNG DÙNG ECMO

Một số biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra khi bệnh nhân sử dụng ECMO đó là:

– Nhiễm trùng: Các ống thông của máy ECMO thông trực tiếp từ môi trường bên ngoài cơ thể vào trong máu của bệnh nhân. Điều này làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, Khi bệnh nhân bị nhiễm trùng đồng thời khi sử dụng máy ECMO có thể khiến cho bệnh trở nặng và tổn thương thêm cơ quan khác.

– Thiếu máu nuôi chi dưới: kết nối với máy ECMO thông qua một tĩnh mạch đùi và/hoặc động mạch đùi của họ. Điều này có thể làm giảm lưu lượng máu xuống chân đó, gây thiếu máu nuôi và hoại tử chân đó. Do đó, phải thay đổi vị trí đặt ống thông sang một vị trí khác của cơ thể.

– Xuất huyết: Xuất huyết ở các bộ phận khác nhau của cơ thể do các thuốc chống đông bệnh nhân cần sử dụng khi dùng máy ECMO. Nguy hiểm nhất khi xuất huyết xảy ra ở não, phổi, các vị trí đặt ống thông hoặc xuất huyết dạ dày.

– Suy thận: Những bệnh nhân sử dụng máy ECMO đôi khi không nhận đủ lượng máu cung cấp cho thận, có thể dẫn đến suy thận cấp cần phải lọc máu.

– Đột quỵ: < 5%, hiếm xảy ra. Bệnh nhân có thể bị nhồi máu não do có lưu hành các cục máu đông nhỏ trong máu.

V/ KẾT LUẬN

ECMO nói nôm na là máy tim-phổi nhân tạo, với nhiều cách sử dụng khác nhau, ECMO trở thành quan trọng đối với các bác sĩ khoa ICU trong nhiệm vụ điều trị các bệnh nhân nặng có suy đa tạng. Trong tương lai gần, bệnh viện sẽ được trang bị hệ thống ECMO này sẽ giúp ích nhiều cho bệnh nhân của chúng ta.

BS CKII. LÂM VÕ HÙNG