Sốt bại liệt hay còn gọi là bại liệt (polio) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do poliovirus gây ra, có khả năng tấn công hệ thần kinh trung ương, làm tổn thương tủy sống và dẫn đến liệt vĩnh viễn. Poliovirus chủ yếu lây qua đường phân miệng, đặc biệt ở môi trường có điều kiện vệ sinh kém, mật độ dân cư cao, trẻ nhỏ chưa được tiêm vắc xin đầy đủ.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ, sau khi xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng, poliovirus nhân lên tại hầu họng và đường tiêu hóa. Virus có thể xuất hiện trong dịch tiết mũi họng từ 1 – 2 tuần đầu sau khi nhiễm. Đồng thời, virus cũng được thải qua phân trong nhiều tuần tiếp theo, ngay cả ở người không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ biểu hiện nhẹ (1).
Phần lớn ca mắc sốt bại liệt không có triệu chứng rõ ràng. Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ khoảng 1/200 trường hợp nhiễm sẽ dẫn đến liệt không hồi phục, thường ở chi dưới, và khoảng 5 – 10% bệnh nhân liệt có thể tử vong do tổn thương cơ hô hấp. Đây là lý do bệnh từng là nỗi ám ảnh y tế toàn cầu, đặc biệt trong thế kỷ 20, gây tàn phế cho hàng trăm nghìn trẻ em mỗi năm.
Nhờ triển khai chương trình Tiêm chủng Mở rộng toàn cầu từ năm 1988, số ca mắc bại liệt đã giảm hơn 99%, với hơn 20 triệu người được cứu khỏi nguy cơ tàn phế do bệnh bại liệt tính đến năm 2022. Tuy nhiên, virus bại liệt hoang dại vẫn còn lưu hành tại một số quốc gia như Afghanistan và Pakistan.
Tại Việt Nam, bệnh bại liệt đã được loại trừ từ năm 2000. Tuy nhiên, Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới vẫn duy trì cảnh báo nguy cơ tái bùng phát nếu tỷ lệ tiêm chủng sụt giảm.
Theo Bộ Y tế, vào cuối 8/2025 Lào phát hiện ca bại liệt biến đổi gene type 1 đầu tiên ở Xonabouly- Savannakhet, một tỉnh cách biên giới Quảng Trị chỉ khoảng hơn 100km và sau đó ghi nhận thêm hai trường hợp dương tính vào đầu tháng 10 trong nhóm trẻ khỏe mạnh được xét nghiệm. Đến ngày 17/10/2025 nước này chính thức công bố dịch bại liệt toàn quốc. Trong khi mỗi năm có hàng triệu lượt người qua lại biên giới Việt – Lào để giao thương, du lịch, lao động. “Bối cảnh ấy dẫn tới nguy cơ vi rút xâm nhập vào Việt Nam, nhất là khi tỉ lệ tiêm chủng phòng bại liệt những năm gần đây chưa đạt mức kỳ vọng. Năm 2024, tỉ lệ bOPV mới đạt 73%, IPV2 đạt 86%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 95%” (Vũ Hương, chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới). Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sơn La, Điện Biên, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Đắk Lắk được xếp vào nhóm nguy cơ cao, do đặc điểm địa lý giáp vùng dịch, địa hình khó tiếp cận, dân cư phân tán và di biến động lớn, làm tăng khả năng virus xâm nhập và lan truyền nhanh.
Ai có nguy cơ mắc sốt bại liệt?
Bất kỳ ai chưa có miễn dịch với virus bại liệt đều có nguy cơ mắc sốt bại liệt, nhưng dễ tổn thương nhất là trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt nếu chưa được tiêm vắc xin đầy đủ. Trong môi trường có điều kiện vệ sinh kém hoặc đang xảy ra dịch lưu hành, nguy cơ này càng tăng cao.
Người lớn chưa từng chủng ngừa vắc xin có thành phần bại liệt trước đây hoặc có hệ miễn dịch suy giảm cũng không loại trừ khỏi nhóm nguy cơ. Việc không tiêm chủng hoặc tiêm không đúng lịch sẽ khiến cơ thể không có đủ kháng thể để chống lại virus khi phơi nhiễm, từ đó dễ dẫn đến mắc bệnh và lây lantrong cộng đồng. (3)
Dấu hiệu của bệnh sốt bại liệt
Theo Bộ Y tế, phần lớn những người nhiễm virus bại liệt sẽ không có các triệu chứng rõ rệt, hoặc triệu chứng không rõ ràng và dễ gây nhầm lẫn với các bệnh khác – nhất là bệnh cúm, do đó, các chuyên gia khuyến cáo người dân cần chú ý tới những thay đổi của cơ thể để kịp thời phát hiện những biểu hiện lâm sàng của bệnh bại liệt bao gồm:
|
Biểu hiện lâm sàng |
Thể liệt mềm cấp điển hình |
Thể viêm màng não mô khuẩn |
Thể nhẹ |
Thể ẩn |
|
Nguyên nhân |
Các cơ bị yếu đi, mềm và khó kiểm soát, cuối cùng bị liệt hoàn toàn |
Một loại nhiễm trùng tế bào não, có thể hiếm xảy ra |
Triệu chứng giống cúm và có thể tự khỏi |
Không rõ triệu chứng |
|
Triệu chứng |
– Sốt – Chán ăn – Nhức đầu – Buồn nôn – Đau cơ các chi, gáy, lưng – Dần dần mất vận động dẫn đến liệt không đối xứng |
– Sốt – Nhức đầu – Đau cơ – Cứng gáy
|
– Sốt – Khó ngủ – Nhức đầu – Buồn nôn – Nôn – Táo bón
|
Có thể biến chuyển sang nặng |
Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC).
Theo Viện thần kinh và đột quỵ Hoa Kỳ (NIH), hội chứng sau bại liệt có những dấu hiệu và biểu hiện bệnh như:
Hội chứng sau bại liệt hiếm khi đe dọa đến tính mạng, nhưng các triệu chứng vẫn có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe. Chẳng hạn, yếu cơ hô hấp có thể dẫn đến rắc rối với hơi thở, ảnh hưởng đến chức năng ban ngày và giấc ngủ, sự yếu kém trong cơ nuốt có thể dẫn đến việc hút thức ăn và chất lỏng vào phổi, dẫn đến viêm phổi.
Chẩn đoán xác định: Lấy mẫu phân, dịch họng, dịch não tủy trong vòng 14 ngày đầu khi có triệu chứng để phân lập virus Polio.
Điều trị
Hiện chưa có thuốc đặc hiệu điều trị khỏi bệnh bại liệt. Mọi can thiệp y tế hiện nay đều nhằm giảm nhẹ triệu chứng, hỗ trợ phục hồi và phòng ngừa di chứng thần kinh. Tùy mức độ tổn thương, trẻ có thể được chỉ định các biện pháp hỗ trợ sau:
Phòng bệnh
Tiêm vắc xin là biện pháp hiệu quả hàng đầu trong việc phòng ngừa sốt bại liệt. Trẻ cần được tiêm đúng lịch các loại vắc xin bại liệt theo chương trình Tiêm chủng Mở rộng hoặc tiêm dịch vụ, bao gồm vắc xin bất hoạt đường tiêm (IPV) và vắc xin sống giảm độc lực dạng uống (OPV).
Vắc xin giúp cơ thể tạo miễn dịch đặc hiệu, ngăn ngừa virus xâm nhập và phát triển trong hệ thần kinh. Duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao là yếu tố then chốt để bảo vệ cộng đồng và phòng ngừa nguy cơ tái bùng phát bệnh.
|
Tên vắc xin |
Phòng bệnh |
Đối tượng |
Lịch tiêm |
|
Vắc xin 6 trong 1 Infanrix Hexa |
Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và các bệnh viêm phổi, viêm màng não mủ do H.Influenzae týp B (Hib) |
Trẻ từ 6 tuần tuổi đến 2 tuổi |
Lịch tiêm gồm 4 mũi: • Mũi 1: lần tiêm đầu tiên.
• Mũi 2: 1 tháng sau mũi 1.
• Mũi 3: 1 tháng sau mũi 2.
• Mũi 4: cách mũi thứ 3 là 12 tháng (cách tối thiểu 6 tháng).
|
|
Vắc xin 6 trong 1 Hexaxim |
Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và các bệnh viêm phổi, viêm màng não mủ do H.Influenzae týp B (Hib) |
|
|
|
Vắc xin 5 trong 1 Pentaxim |
Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt và các bệnh viêm phổi, viêm màng não mủ do H.Influenzae týp B (Hib) |
Trẻ từ 2 tháng tuổi đến tròn 2 tuổi |
Lịch tiêm gồm 4 mũi: • Mũi 1: lần tiêm đầu tiên
• Mũi 2: 1 tháng sau mũi 1
• Mũi 3: 1 tháng sau mũi 2
• Mũi 4: 1 năm sau mũi 3
|
|
Vắc xin Infanrix-IPV/Hib |
Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt và các bệnh viêm phổi, viêm màng não mủ do H. Influenzae týp B (Hib) |
Trẻ từ 2 tháng tuổi đến trước sinh nhật 5 tuổi |
Lịch tiêm gồm 5 mũi: • Mũi 1: Lần đầu tiên.
• Mũi 2: 1 tháng sau mũi 1.
• Mũi 3: 1 tháng sau mũi 2.
• Mũi 4: 1 năm sau mũi 3 (tối thiểu 6 tháng sau mũi 3).
• Mũi nhắc: 3 năm sau mũi 4.
|
|
Vắc xin 4 trong 1 Tetraxim |
Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt |
Trẻ từ 2 tháng tuổi trở lên đến 13 tuổi |
Lịch tiêm gồm 5 mũi: • Mũi 1: lần tiêm đầu tiên
• Mũi 2: 1 tháng sau mũi 1
• Mũi 3: 1 tháng sau mũi 2
• Mũi 4: 1 năm sau mũi 3
• Mũi 5: 3 năm sau mũi 4 (4 – 6 t)
|
|
Vắc xin phòng bệnh bại liệt bất hoạt nguyên đơn IPV (có trong Chương trình TCMR năm 2018) |
Chỉ chứa thành phần bại liệt týp 1, 2, 3 bất hoạt |
Trẻ từ 5 tháng tuổi trở lên |
Lịch tiêm gồm 2 mũi: • Mũi 1: Vào lúc trẻ 5 tháng tuổi
• Mũi 2: Vào lúc trẻ 9 tháng tuổi đến dưới 1 tuổi
|
Virus bại liệt có thể tồn tại trong phân người nhiễm và lây truyền qua đường phân miệng, đặc biệt tại các khu vực có điều kiện vệ sinh kém. Do đó, cần rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn và khi chăm sóc trẻ nhỏ.
Đồng thời, cần đảm bảo sử dụng nguồn nước sạch, xử lý phân đúng cách và giữ vệ sinh thực phẩm để hạn chế nguy cơ tiếp xúc với nguồn lây nhiễm. Việc nâng cao ý thức vệ sinh cá nhân và cộng đồng là biện pháp hỗ trợ thiết yếu bên cạnh tiêm chủng để kiểm soát sốt bại liệt một cách hiệu quả.
Tài liệu tham khảo
BS DƯƠNG QUỐC HIỀN – TK TRUYỀN NHIỄM- BV ĐA KHOA AN GIANG
