Home / Tài liệu - văn bản / Tài liệu y học / HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA THUỐC CHỐNG HUYẾT KHỐI ĐỂ PHÒNG NGỪA THỨ PHÁT SAU HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP: PHÂN TÍCH TỔNG HỢP NETWORK.

HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA THUỐC CHỐNG HUYẾT KHỐI ĐỂ PHÒNG NGỪA THỨ PHÁT SAU HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP: PHÂN TÍCH TỔNG HỢP NETWORK.

 

Effect and safety of antithrombotic therapies for secondary prevention after acute coronary syndrome: a network meta-analysis.

Mo F1Li J2Yan Y2Wu W1Lai S2.

Published 25 October 2018 Volume 2018:12 Pages 3583—3594

DOI https://doi.org/10.2147/DDDT.S166544

Tóm tắt:

Điều trị kháng tiểu cầu kép là một phác đồ tiêu chuẩn để phòng ngừa thứ phát sau hội chứng mạch vành cấp, mặc dù có nhiều chiến lược chống huyết khối mới, nhưng có một số nghiên cứu đánh giá hiệu quả và an toàn của một số liệu pháp phổ biến. Nghiên cứu này sử dụng một phân tích gộp trên mạng để so sánh hiệu quả và an toàn của tất cả các liệu pháp chống huyết khối hiện có.

Phương pháp:

Các cơ sở dữ liệu thư viện PubMed, MEDLINE và Cochrane đã được tìm kiếm cho các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, được công bố cho đến ngày 1 tháng 7 năm 2017, đánh giá hiệu quả của liệu pháp chống huyết khối trong điều trị hội chứng mạch vành cấp. Kết cục chính là chảy máu lâm sàng nghiêm trọng và nặng và kết cục phụ là các biến cố tim mạch nặng, tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim và nhồi máu cơ tim.

Kết quả:

So sánh điều trị bằng aspirin + thuốc ức chế P2Y12 mới, với điều trị bằng aspirin + chất ức chế P2Y12 mới chuyển sang clopidogrel trên lâm sàng làm giảm nguy cơ các biến cố tim mạch lớn hoặc chảy máu nặng (OR: 0,30, KTC 95% 0,12-0,75). Cả nguy cơ nhồi máu cơ tim (OR: 0,82, KTC 95%: 0,62-1,09) và nguy cơ chảy máu nặng (OR: 0,18, KTC 95%: 0,01-1,68) không có sự khác biệt đáng kể giữa các phác đồ điều trị. Không có sự khác biệt đáng kể trong các biến cố tim mạch, tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong do tim, nhồi máu cơ tim, chảy máu nặng về mặt lâm sàng, và nguy cơ chảy máu nặng với rivaroxaban + liệu pháp ức chế P2Y12 mới khi so sánh với aspirin + chất ức chế P2Y12 mới. So với aspirin + clopidogrel, liệu pháp chuyển đổi tiếp tục giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim (OR: 1,81, 95%, KTC: 1,01-1,34) mà không làm tăng nguy cơ chảy máu nghiêm trọng (OR: 0,41, 95%, KTC: 0,15-1,07). Điều trị bằng aspirin + thuốc ức chế P2Y12 mới giảm tử vong do mọi nguyên nhân (OR: 0.91, KTC 95%: 0.84-0.98) và nguy cơ tử vong tim (OR: 0.86, KTC 95% : 0.79-0.93).

Kết luận:

Chúng tôi kết luận những điều sau đây từ nghiên cứu của chúng tôi:

1) Aspirin + chất ức chế P2Y12 mới / chiến lược điều trị chuyển đổi clopidogrel không thua kém aspirin + chất ức chế P2Y12 mới;

2) So với aspirin + clopidogrel, chiến lược chuyển đổi có thể làm giảm thêm nguy cơ nhồi máu cơ tim mà không làm tăng nguy cơ chảy máu;

3) So với aspirin + clopidogrel, điều trị bằng aspirin + thuốc ức chế P2Y12 mới có thể làm giảm nguy cơ tử vong.

Người dịch: BS Phạm Huỳnh Minh Trí – Khoa Tim mạch lão học.