Bệnh dại là bệnh nhiễm virus cấp tính, ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ươngnghiêm trọng, tỷ lệ tử vong gần như 100% nếu bùng phát triệu chứng. Theo các chuyên gia, virus dại lây nhiễm vào hệ thần kinh và ngăn cản hệ thống này hoạt động bình thường. Đáng lưu ý, virus dại không gây ra các tổn thương có thể nhìn thấy ở não bộ người bệnh nhưng sẽ phá vỡ cáctế bào thần kinh, đặc biệt là hệ thần kinh tự chủ (cơ quan điều chỉnh nhịp tim và hô hấp).
Nguồn lây truyền
Bất kỳ động vật có vú nào (động vật cho con bú) đều trở thành ổ chứa virus dại và lâytruyền bệnh. Trong đó, các loài động vật có khả năng lây truyền virus dại sang người phổ biếnbao gồm thú cưng và động vật trang trại (chó, mèo, bò, chồn, dê, ngựa) và các động vật hoang dã(dơi, hải ly, chó sói đồng cỏ, cáo, khỉ, gấu trúc, chồn hôi, chuột đất…)
Theo WHO, chó là nguồn lây chủ yếucủa bệnh dại, có liên quan đến 99% các trườnghợp mắc bệnh dại ở người. Tính từ bị nhiễmbệnh, chó thường chết trong vòng 7 ngày sau khixuất hiện các dấu hiệu lâm sàng, nên việc quansát thời gian rất quan trọng.
Đáng lưu ý, chúng có thể thải virus trongnước bọt trong tối đa 5 – 6 ngày trước khi biểuhiện bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh. Do đó, các cơquan y tế khuyến cáo cách ly động vật cắn ngườitrong vòng 10 ngày để xem xét biểu hiện vàđánh giá tình trạng để đưa ra phác đồ tiêm chủngvà can thiệp phù hợp.
2. Mèo, dơi và các động vật hoang dã khác
Sau chó, mèo có xu hướng là loài động vật nuôi trong nhà thường bị dại. Tại Việt Nam ghi nhận 80% trường hợp mắc bệnh dại là do chó cắn, 18% do mèo cào, còn lại ở các động vậtkhác trong năm 2023. Bệnh dại ở mèo cực kỳ hiếm gặp ở Hoa Kỳ.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ, động vật nuôi, bao gồm cả thú cưng, chỉ chiếm 7,6% các trường hợp mắc bệnh dại được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm2015. Trong đó, không có một trường hợp nào được xác nhận mắc bệnh dại từ mèo sang người ở Hoa Kỳ trong 40 năm qua. Trên thực tế, chỉ có hai trường hợp mắc bệnh dại ở người được cho làdo mèo gây ra kể từ năm 1960.
Bên cạnh đó, tại Châu Mỹ, bệnh dại do chó truyền phần lớn đã được kiểm soát và loài dơihút máu hiện đang là nguồn lây bệnh dại chính ở người, chiếm 90% các trường hợp phơi nhiễm. Đồng thời, bệnh dại do dơi cũng đang là mối đe dọa sức khỏe cộng đồng mới nổi ở Úc và một sốquốc gia vùng Tây Âu.
Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong ở người sau khi tiếp xúc với cáo, gấu trúc, chồnhôi và các loài động vật có vú hoang dã khác là rất hiếm.
Đường lây
Bệnh dại là bệnh nhiễm virus nghiêm trọng, chủ yếu lây qua vết cắn hoặc vết cào củađộng vật bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền qua quá trình cấy ghép nội tạng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh. Virus dại xâm nhập vào cơthể, tấn công hệ thần kinh trung ương, dẫn đến các triệu chứng về thần kinh, rối loạn hành vi vàtử vong nếu không được điều trị kịp thời.
1. Bệnh dại lây truyền qua vết cắn
Bệnh dại lây truyền chủ yếu qua vết cắn từ nước bọt có chứa virus của động vật bị nhiễmbệnh sang người. Khi virus khi xâm nhập vào cơ thể, sẽ đi theo các dây thần kinh ngoại biên đếnhệ thần kinh trung ương. Khi đến não, virus phát triển mạnh vào các tế bào thần kinh, phá vỡchức năng của chúng, làm bùng phát triệu chứng và lên cơn dại.
Về mặt lý thuyết, việc lây truyền bệnh dại từ người (bị nhiễm bệnh) sang người khỏemạnh qua vết cắn hoặc nước bọt là có thể xảy ra, nhưng trên thực tế chưa xác định trường hợpnào.
2. Bệnh dại lây truyền qua vết xước, niêm mạc
Bệnh dại lây qua đường nào? Các trường hợp mắc bệnh dại qua vết xước, niêm mạc màkhông phải do vết cắn thường rất hiếm gặp nhưng vẫn có thể xảy ra. Nhiều trường hợp ngườibệnh bị nhiễm virus dại qua vết xước, vết trầy, vết thương hở hoặc niêm mạc do tiếp xúc vớinước bọt của động vật mang mầm bệnh dại.
Một trường hợp mắc bệnh dại đã được báo cáo ở Trung Quốc sau khi để vết thương hởtiếp xúc với máu có chứa nước bọt của người bị chó dại cắn. Người bị phơi nhiễm đã tử vong vìbệnh dại sau khi không điều trị dự phòng bằng vắc xin, trong khi cá nhân bị cắn đã được điều trịdự phòng sau phơi nhiễm và không phát triển bệnh dại.
3. Cấy ghép nội tạng
Theo các chuyên gia y tế, con người hầu như là vật chủ cuối cùng của bệnh dại và gầnnhư không lây lan bệnh dại theo cách từ người sang người. Tuy nhiên, trường hợp cấy ghép nộitạng và mô của người bị nhiễm bệnh dại được cho là cách thức duy nhất để truyền virus dại từngười sang người. Trường hợp đầu tiên mắc bệnh dại liên quan đến ghép giác mạc được báo cáovào năm 1978. (3)
Mặc dù, bệnh dại lây truyền qua ghép tạng vẫn rất hiếm gặp nhưng vẫn là vấn đề cầnđược quan tâm, vì tỷ lệ tử vong cực kỳ cao. Do đó, cần thực hiện xét nghiệm huyết thanh và chẩnđoán cho những người hiến tặng tạng có nguy cơ mắc bệnh dại cao hoặc nghi ngờ mắc bệnh dạitrên lâm sàng.
Việc mắc bệnh dại do hít phải khí dung có chứa virus, ăn thịt hoặc sữa sống của động vật bịnhiễm bệnh hoặc thông qua ghép tạng là cực kỳ hiếm.
Triệu chứng và tiến triển
Thời gian ủ bệnh dại thường kéo dài từ 2 đến 3 tháng, nhưng cũng có thể dao động từmột tuần đến một năm, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí vết thương và lượng vi rút xâmnhập. Ban đầu, các triệu chứng của bệnh dại thường không đặc hiệu, bao gồm sốt, đau và cảmgiác ngứa ran, châm chích hoặc bỏng rát bất thường tại vết thương. Khi vi rút di chuyển đến hệthần kinh trung ương, sẽ gây viêm não và tủy sống dẫn đến tử vong.
Bệnh dại được chia thành hai thể chính:
– Bệnh dại thể hung dữ: Thể bệnh này gây ra các biểu hiện như tăng động, hành vi kíchđộng, ảo giác, sợ nước và sợ gió. Tử vong thường xảy ra sau vài ngày do ngừng tim, ngừng hôhấp.
– Bệnh dại thể liệt: Thể bệnh này chiếm khoảng 20% tổng số ca mắc ở người, tiến triểnchậm hơn và thường kéo dài hơn so với thể hung dữ. Các cơ bị tê liệt dần dần, bắt đầu từ vị trívết thương. Tình trạng hôn mê diễn tiến chậm và cuối cùng dẫn đến tử vong. Bệnh dại thể liệtthường bị chẩn đoán sai, vì vậy có thể xảy ra việc thống kê không đầy đủ về thể bệnh này.
Chẩn đoán
Việc chẩn đoán bệnh dại thường bắt đầu từ biểu hiện lâm sàng đặc trưng như sợ nước, sợgió, sợ ánh sáng, kèm theo các triệu chứng thần kinh bất thường. Bác sĩ cũng sẽ đánh giá yếu tốdịch tễ, chẳng hạn như người bệnh sống tại khu vực có lưu hành bệnh dại, có tiền sử bị động vậtnghi dại cắn, liếm lên vùng da trầy xước hoặc niêm mạc.
Động vật nghi dại thường có biểu hiện bất thường, chưa được tiêm phòng và có thể lànguồn lây. Vết thương nghi ngờ thường là vết cắn sâu, có dính nước bọt.
Để xác định bệnh dại, các xét nghiệm chẩn đoán hiện đại có thể được sử dụng như:
Điều trị
Không có phương pháp điều trị đặc hiệu nào có thể chữa khỏi bệnh dại một khi các triệuchứng lâm sàng đã xuất hiện ở người. Khi virus dại đã tấn công hệ thần kinh trung ương và gâyra các biểu hiện của bệnh, tỷ lệ tử vong là gần như 100%. Việc điều trị lúc này chỉ mang tính hỗtrợ, giúp bệnh nhân giảm đau và duy trì sự thoải mái:
Trong trường hợp bị động vật nghi mắc bệnh dại cắn hoặc liếm lên vùng da trầy xước, nếu người bị phơi nhiễm chưa xuất hiện các triệu chứng lâm sàng, bệnh dại hoàn toàn có thểđược phòng ngừa nếu được xử lý đúng cách và kịp thời. Việc điều trị dự phòng sau phơi nhiễmđóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn virus xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương và pháttriển thành bệnh.
Theo Quyết định số 1622/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về “Hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh dại trên người“, điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bệnh dại cần được thựchiện càng sớm càng tốt để giảm nguy cơ mắc bệnh. Quy trình bao gồm:
1. Xử lý vết thương ngay lập tức
Ngay sau khi bị cắn hoặc tiếp xúc với nước bọt của động vật nghi mắc bệnh dại, việc đầutiên cần làm là rửa sạch vết thương dưới vòi nước chảy trong ít nhất 15 phút. Sử dụng xà phòngvà các dung dịch sát khuẩn như povidone-iodine hoặc cồn 45 – 70 độ hoặc cồn i-ốt sẽ giúp loạibỏ phần lớn lượng virus tại chỗ, từ đó giảm đáng kể nguy cơ lây nhiễm. Đây là bước xử lý quantrọng không thể bỏ qua.
Lưu ý không làm tổn thương thêm vết thương hay khâu kín ngay; nếu cần khâu, nên trìhoãn sau vài giờ hoặc đến 3 ngày, đồng thời khâu ngắt quãng sau khi đã tiêm huyết thanh khángdại. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định dùng kháng sinh và tiêm phòng uốn ván.
2. Tiêm phòng tùy mức độ nguy hiểm
Việc tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại sẽ được chỉ định dựa trên tình huống phơinhiễm, vị trí vết thương và tình trạng động vật. Các mức độ được chia như sau:
Huyết thanh kháng dại giúp cung cấp kháng thể thụ động, có tác dụng trung hòa virus dạingay tại vị trí phơi nhiễm trước khi hệ miễn dịch của cơ thể kịp tạo ra kháng thể tự nhiên. Thông thường, RIG được chỉ định trong các trường hợp vết cắn sâu, nghiêm trọng hoặc ở vị trí gần hệthần kinh. Người bệnh chỉ cần tiêm huyết thanh một lần duy nhất và việc tiêm cần được thựchiện càng sớm càng tốt, lý tưởng là trong vòng 7 ngày kể từ khi tiêm liều vắc xin đầu tiên.
Tiêm vắc xin phòng dại là biện pháp chủ động giúp cơ thể sản sinh kháng thể đặc hiệuchống lại virus. Việc tiêm vắc xin nên được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễmvà người bệnh cần tuân theo đúng lịch tiêm do bác sĩ chỉ định (thường từ 4 – 5 mũi).
Tiêm vắc xin và huyết thanh sau khi bị động vật cắn có hiệu quả gần như 100% trongphòng ngừa bệnh dại, nếu được chủng ngừa đúng thời điểm (ngay sau khi động vật cắn hoặctiêm càng sớm càng tốt), đúng mũi và đúng liều lượng.
Lịch tiêm phòng vắc xin phòng dại sau phơi nhiễm cho người chưa tiêm phòng dạitrước đó hoặc tiêm chưa đủ liều:
Đường tiêm bắp (liều lượng: 0,5 ml/1 mũi)
Lịch tiêm đặc biệt áp dụng trong trường hợp: Không có sẵn huyết thanh kháng dại tạiđiểm tiêm vaccin và xa nơi tiêm huyết thanh kháng dại mà người bị thương chưa thể tiếp cậnngay.
Tiêm trong da (liều lượng: 0,1 ml/1 mũi)
Lưu ý:
(*) Con vật sống khỏe mạnh sau 10 ngày theo dõi
(**) Con vật chết, bệnh, không theo dõi được trong vòng 10 ngày
Có thể phải kết hợp tiêm vắc xin dại với huyết thanh kháng dại (tùy thuộc vào vếtthương, tình trạng sức khỏe của người bị cắn, tình trạng con vật tại thời điểm cắn và trong vòng10 ngày theo dõi…)
Lịch tiêm phòng vắc xin phòng dại sau phơi nhiễm cho người đã tiêm đủ liều trướcphơi nhiễm
Dự phòng bệnh dại
Bệnh dại là bệnh nguy hiểm chết người, nhưng có thể phòng ngừa được. Việc chủ độngáp dụng các biện pháp phòng ngừa là chìa khóa để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng khỏimối đe dọa này. Dưới đây là các cách phòng ngừa bệnh dại hiệu quả:
Theo các chuyên gia y tế, dại là căn bệnh “tử” nhưng hoàn toàn có thể dự phòng và tránhđược hậu quả xấu. Các phương pháp phòng tránh lây nhiễm bệnh dại bao gồm:
1. Tiêm phòng dại cho người và vật nuôi
Tiêm phòng dại cho cả người và vật nuôi là phương pháp phòng tránh lây nhiễm bệnh dạihiệu quả, an toàn và tiết kiệm nhất. Việc tiêm phòng dại trước phơi nhiễm sẽ giúp cơ thể tạo rakháng thể đáp ứng miễn dịch thông qua các tế bào lympho và ghi nhớ “miễn dịch”. Nhờ đó, trong trường hợp sau khi phơi nhiễm virus dại, tiêm liều vắc xin dại nhắc lại, phản ứng miễn dịchxuất hiện nhanh và mạnh hơn. Đồng thời, việc thực hiện sẽ ít mũi tiêm hơn so với chưa tiêmchủng dự phòng.
Lịch tiêm phòng vắc xin dại trước phơi nhiễm ở người như sau:
Phác đồ tiêm bắp
Phác đồ tiêm trong da
(*) Dành cho người có nguy cơ cao như nhân viên làm trong phòng thí nghiệm vềnghiên cứu hay sản xuất liên quan đến Dại, bác sĩ thú y, người thám hiểm hang động, người điềukhiển thú và người gác rừng trong vùng có bệnh dại ở động vật…
Tài liệu tham khảo
BS DƯƠNG QUỐC HIỀN
TRƯỞNG KHOA TRUYỀN NHIỄM
