NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG BỆNH DẠI (WORLD RABIES DAY 28/9)

Bệnh dại  bệnh nhiễm virus cấp tính, ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ươngnghiêm trọng, tỷ lệ tử vong gần như 100% nếu bùng phát triệu chứng. Theo các chuyên gia, virus dại lây nhiễm vào hệ thần kinh ngăn cản hệ thống này hoạt động bình thường. Đáng lưu ý, virus dại không gây ra các tổn thương thể nhìn thấynão bộ người bệnh nhưng sẽ phá vỡ cáctế bào thần kinh, đặc biệt hệ thần kinh tự chủ ( quan điều chỉnh nhịp tim hấp).

Nguồn lây truyền

Bất kỳ động vật nào (động vật cho con ) đều trở thànhchứa virus dại lâytruyền bệnh. Trong đó, các loài động vật khả năng lây truyền virus dại sang người phổ biếnbao gồm thú cưng động vật trang trại (chó, mèo, , chồn, , ngựa) các động vật hoang (dơi, hải ly, chó sói đồng cỏ, cáo, khỉ, gấu trúc, chồn hôi, chuột đất…)

1. Chónguồn lây truyền chủ yếu

Theo WHO, chó nguồn lây chủ yếucủa bệnh dại, liên quan đến 99% các trườnghợp mắc bệnh dạingười. Tính từ bị nhiễmbệnh, chó thường chết trong vòng 7 ngày sau khixuất hiện các dấu hiệu lâm sàng, nên việc quansát thời gian rất quan trọng.

Đáng lưu ý, chúng thể thải virus trongnước bọt trong tối đa 5 – 6 ngày trước khi biểuhiện bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh. Do đó, các quan y tế khuyến cáo cách ly động vật cắn ngườitrong vòng 10 ngày để xem xét biểu hiện đánh giá tình trạng để đưa ra phác đồ tiêm chủng can thiệp phù hợp.

2. Mèo, dơi các động vật hoang khác

Sau chó, mèo xu hướng loài động vật nuôi trong nhà thường bị dại. Tại Việt Nam ghi nhận 80% trường hợp mắc bệnh dại do chó cắn, 18% do mèo cào, còn lạicác động vậtkhác trong năm 2023. Bệnh dạimèo cực kỳ hiếm gặp ở Hoa Kỳ.

Theo Trung tâm Kiểm soát Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ, động vật nuôi, bao gồm cả thú cưng, chỉ chiếm 7,6% các trường hợp mắc bệnh dại được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm2015. Trong đó, không một trường hợp nào được xác nhận mắc bệnh dại từ mèo sang người ở Hoa Kỳ trong 40 năm qua. Trên thực tế, chỉ hai trường hợp mắc bệnh dạingười được cho do mèo gây ra kể từ năm 1960.

Bên cạnh đó, tại Châu Mỹ, bệnh dại do chó truyền phần lớn đã được kiểm soát loài dơihút máu hiện đang nguồn lây bệnh dại chínhngười, chiếm 90% các trường hợp phơi nhiễm. Đồng thời, bệnh dại do dơi cũng đang mối đe dọa sức khỏe cộng đồng mới nổiÚc một sốquốc gia vùng Tây Âu.

Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm bệnh tử vongngười sau khi tiếp xúc với cáo, gấu trúc, chồnhôi các loài động vật hoang khác rất hiếm.

Đường lây

Bệnh dại bệnh nhiễm virus nghiêm trọng, chủ yếu lây qua vết cắn hoặc vết cào củađộng vật bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, bệnh cũng thể lây truyền qua quá trình cấy ghép nội tạng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tính mạng người bệnh. Virus dại xâm nhập vào thể, tấn công hệ thần kinh trung ương, dẫn đến các triệu chứng về thần kinh, rối loạn hành vi tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

1. Bệnh dại lây truyền qua vết cắn

Bệnh dại lây truyền chủ yếu qua vết cắn từ nước bọt chứa virus của động vật bị nhiễmbệnh sang người. Khi virus khi xâm nhập vào thể, sẽ đi theo các dây thần kinh ngoại biên đếnhệ thần kinh trung ương. Khi đến não, virus phát triển mạnh vào các tế bào thần kinh, phá vỡchức năng của chúng, làm bùng phát triệu chứng lên cơn dại.

Về mặt thuyết, việc lây truyền bệnh dại từ người (bị nhiễm bệnh) sang người khỏemạnh qua vết cắn hoặc nước bọt thể xảy ra, nhưng trên thực tế chưa xác định trường hợpnào.

2. Bệnh dại lây truyền qua vết xước, niêm mạc

Bệnh dại lây qua đường nào? Các trường hợp mắc bệnh dại qua vết xước, niêm mạc không phải do vết cắn thường rất hiếm gặp nhưng vẫn thể xảy ra. Nhiều trường hợp ngườibệnh bị nhiễm virus dại qua vết xước, vết trầy, vết thương hở hoặc niêm mạc do tiếp xúc vớinước bọt của động vật mang mầm bệnh dại.

Một trường hợp mắc bệnh dại đã được báo cáo ở Trung Quốc sau khi để vết thương hởtiếp xúc với máu chứa nước bọt của người bị chó dại cắn. Người bị phơi nhiễm đã tử vong bệnh dại sau khi không điều trị dự phòng bằng vắc xin, trong khi nhân bị cắn đã được điều trịdự phòng sau phơi nhiễm không phát triển bệnh dại.

3. Cấy ghép nội tạng

Theo các chuyên gia y tế, con người hầu như vật chủ cuối cùng của bệnh dại gầnnhư không lây lan bệnh dại theo cách từ người sang người. Tuy nhiên, trường hợp cấy ghép nộitạng của người bị nhiễm bệnh dại được cho cách thức duy nhất để truyền virus dại từngười sang người. Trường hợp đầu tiên mắc bệnh dại liên quan đến ghép giác mạc được báo cáovào năm 1978. (3)

Mặc , bệnh dại lây truyền qua ghép tạng vẫn rất hiếm gặp nhưng vẫn vấn đề cầnđược quan tâm, tỷ lệ tử vong cực kỳ cao. Do đó, cần thực hiện xét nghiệm huyết thanh chẩnđoán cho những người hiến tặng tạng nguy mắc bệnh dại cao hoặc nghi ngờ mắc bệnh dạitrên lâm sàng.

Việc mắc bệnh dại do hít phải khí dung chứa virus, ăn thịt hoặc sữa sống của động vật bịnhiễm bệnh hoặc thông qua ghép tạng cực kỳ hiếm.

Triệu chứng tiến triển

Thời gianbệnh dại thường kéo dài từ 2 đến 3 tháng, nhưng cũng thể dao động từmột tuần đến một năm, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí vết thương lượng vi rút xâmnhập. Ban đầu, các triệu chứng của bệnh dại thường không đặc hiệu, bao gồm sốt, đau cảmgiác ngứa ran, châm chích hoặc bỏng rát bất thường tại vết thương. Khi vi rút di chuyển đến hệthần kinh trung ương, sẽ gây viêm não tủy sống dẫn đến tử vong.

Bệnh dại được chia thành hai thể chính:

Bệnh dại thể hung dữ: Thể bệnh này gây ra các biểu hiện như tăng động, hành vi kíchđộng, ảo giác, sợ nước sợ gió. Tử vong thường xảy ra sau vài ngày do ngừng tim, ngừng hấp.

Bệnh dại thể liệt: Thể bệnh này chiếm khoảng 20% tổng số ca mắcngười, tiến triểnchậm hơn thường kéo dài hơn so với thể hung dữ. Các bị liệt dần dần, bắt đầu từ vị trívết thương. Tình trạng hôn diễn tiến chậm cuối cùng dẫn đến tử vong. Bệnh dại thể liệtthường bị chẩn đoán sai, vậy thể xảy ra việc thống không đầy đủ về thể bệnh này.

Chẩn đoán

Việc chẩn đoán bệnh dại thường bắt đầu từ biểu hiện lâm sàng đặc trưng như sợ nước, sợgió, sợ ánh sáng, kèm theo các triệu chứng thần kinh bất thường. Bác cũng sẽ đánh giá yếu tốdịch tễ, chẳng hạn như người bệnh sống tại khu vực lưu hành bệnh dại, tiền sử bị động vậtnghi dại cắn, liếm lên vùng da trầy xước hoặc niêm mạc.

Động vật nghi dại thường biểu hiện bất thường, chưa được tiêm phòng thể nguồn lây. Vết thương nghi ngờ thường vết cắn sâu, dính nước bọt.

Để xác định bệnh dại, các xét nghiệm chẩn đoán hiện đại thể được sử dụng như:

Xét nghiệm kháng nguyên bằng huỳnh quang miễn dịch (DFA) trên mẫu sinh thiếtda (thường lấyvùng gáy).
Xét nghiệm sinh học phân tử, như PCR hoặc RT-PCR, giúp phát hiện ARN củavirus trong nước bọt, dịch não tủy, hoặc thần kinh.
Chẩn đoán sau tử vong được thực hiện qua khám nghiệm não các quankhác để xác định sự hiện diện của virus, kháng nguyên hoặc vật liệu di truyền của virus dại.

Điều trị

Không phương pháp điều trị đặc hiệu nào thể chữa khỏi bệnh dại một khi các triệuchứng lâm sàng đã xuất hiệnngười. Khi virus dại đã tấn công hệ thần kinh trung ương gâyra các biểu hiện của bệnh, tỷ lệ tử vong gần như 100%. Việc điều trị lúc này chỉ mang tính hỗtrợ, giúp bệnh nhân giảm đau duy trì sự thoải mái:

Dùng thuốc an thần (như diazepam, morphin) để kiểm soát co giật.
Giữ môi trường yên tĩnh, tránh ánh sáng mạnh tiếng ồn.

Trong trường hợp bị động vật nghi mắc bệnh dại cắn hoặc liếm lên vùng da trầy xước, nếu người bị phơi nhiễm chưa xuất hiện các triệu chứng lâm sàng, bệnh dại hoàn toàn thểđược phòng ngừa nếu được xử đúng cách kịp thời. Việc điều trị dự phòng sau phơi nhiễmđóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn virus xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương pháttriển thành bệnh.

Theo Quyết định số 1622/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế vềHướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh dại trên người“, điều trị dự phòng sau phơi nhiễm bệnh dại cần được thựchiện càng sớm càng tốt để giảm nguy mắc bệnh. Quy trình bao gồm:

1. Xử vết thương ngay lập tức

Ngay sau khi bị cắn hoặc tiếp xúc với nước bọt của động vật nghi mắc bệnh dại, việc đầutiên cần làm rửa sạch vết thương dưới vòi nước chảy trong ít nhất 15 phút. Sử dụng phòng các dung dịch sát khuẩn như povidone-iodine hoặc cồn 45 – 70 độ hoặc cồn i-ốt sẽ giúp loạibỏ phần lớn lượng virus tại chỗ, từ đó giảm đáng kể nguy lây nhiễm. Đây bước xử quantrọng không thể bỏ qua.

Lưu ý không làm tổn thương thêm vết thương hay khâu kín ngay; nếu cần khâu, nên trìhoãn sau vài giờ hoặc đến 3 ngày, đồng thời khâu ngắt quãng sau khi đã tiêm huyết thanh khángdại. Tùy trường hợp, bác thể chỉ định dùng kháng sinh tiêm phòng uốn ván.

2. Tiêm phòng tùy mức độ nguy hiểm

Việc tiêm vắc xin huyết thanh kháng dại sẽ được chỉ định dựa trên tình huống phơinhiễm, vị trí vết thương tình trạng động vật. Các mức độ được chia như sau:

Độ I: Không vết thương ngoài da (chỉ bị sờ, liếm trên da lành), không cần điều trịdự phòng.
Độ II: Vết xước, cào hoặc liếm trên vùng da bị tổn thương, chỉ định tiêm vắc xinngay dừng tiêm nếu động vật khỏe mạnh sau 10 ngày. Nếu động vật triệu chứng dại hoặckhông theo dõi được, chỉ định tiêm đủ liệu trình vắc xin.
Độ III: Vết cắn sâu, nhiều vết, gần dây thần kinh trung ương (như đầu, mặt, cổ, hoặcbộ phận sinh dục), chỉ định tiêm huyết thanh kháng dại vắc xin ngay.

Huyết thanh kháng dại giúp cung cấp kháng thể thụ động, tác dụng trung hòa virus dạingay tại vị trí phơi nhiễm trước khi hệ miễn dịch của thể kịp tạo ra kháng thể tự nhiên. Thông thường, RIG được chỉ định trong các trường hợp vết cắn sâu, nghiêm trọng hoặcvị trí gần hệthần kinh. Người bệnh chỉ cần tiêm huyết thanh một lần duy nhất việc tiêm cần được thựchiện càng sớm càng tốt, tưởng trong vòng 7 ngày kể từ khi tiêm liều vắc xin đầu tiên.

Tiêm vắc xin phòng dại biện pháp chủ động giúp thể sản sinh kháng thể đặc hiệuchống lại virus. Việc tiêm vắc xin nên được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm người bệnh cần tuân theo đúng lịch tiêm do bác chỉ định (thường từ 4 – 5 mũi).

Tiêm vắc xin huyết thanh sau khi bị động vật cắn hiệu quả gần như 100% trongphòng ngừa bệnh dại, nếu được chủng ngừa đúng thời điểm (ngay sau khi động vật cắn hoặctiêm càng sớm càng tốt), đúng mũi đúng liều lượng.

Lịch tiêm phòng vắc xin phòng dại sau phơi nhiễm cho người chưa tiêm phòng dạitrước đó hoặc tiêm chưa đủ liều:

Đường tiêm bắp (liều lượng: 0,5 ml/1 mũi)

Tiêm 3 liều* vào các ngày N0 – N3 – N7
Tiêm 5 liều** vào các ngày N0 – N3 – N7 – N14 – N28
Lịch tiêm đặct biệt: 4 liều theo lịch: 2 mũi N0 (ở 2 bên chi) – N7 – N21

Lịch tiêm đặc biệt áp dụng trong trường hợp: Không sẵn huyết thanh kháng dại tạiđiểm tiêm vaccin xa nơi tiêm huyết thanh kháng dại người bị thương chưa thể tiếp cậnngay.

Tiêm trong da (liều lượng: 0,1 ml/1 mũi)

Tiêm 2 mũi/1 lần x 3 lần* vào các ngày N0 – N3 – N7
Tiêm 2 mũi/1 lần x 4 lần** vào các ngày N0 – N3 – N7 – N28

Lưu ý:

(*) Con vật sống khỏe mạnh sau 10 ngày theo dõi

(**) Con vật chết, bệnh, không theo dõi được trong vòng 10 ngày

thể phải kết hợp tiêm vắc xin dại với huyết thanh kháng dại (tùy thuộc vào vếtthương, tình trạng sức khỏe của người bị cắn, tình trạng con vật tại thời điểm cắn trong vòng10 ngày theo dõi…)

Lịch tiêm phòng vắc xin phòng dại sau phơi nhiễm cho người đã tiêm đủ liều trướcphơi nhiễm

Tiêm 2 mũi vào các ngày N0 – N3. thể tiêm đường bắp (0,5 ml/1 mũi) hoặc tiêmtrong da (0,1 ml/1 mũi).

Dự phòng bệnh dại

Bệnh dại bệnh nguy hiểm chết người, nhưng thể phòng ngừa được. Việc chủ độngáp dụng các biện pháp phòng ngừa chìa khóa để bảo vệ bản thân, gia đình cộng đồng khỏimối đe dọa này. Dưới đây các cách phòng ngừa bệnh dại hiệu quả:

Tiêm vắc xin dại cho vật nuôi: Chó, mèo cần được tiêm phòng định kỳ hàng nămtheo hướng dẫn của quan thú y. Hạn chế để vật nuôi chạy rông phải biện pháp quản chặt chẽ.
Chủ động tiêm phòng cho người nguy cao: Người làm nghề thú y, nuôi chómèo, kiểm lâm, người hay tiếp xúc với động vật hoang hoặc đi đến vùng dịch nên tiêm vắcxin phòng dại trước phơi nhiễm.
Tránh tiếp xúc với động vật lạ hoặc nghi nhiễm: Không lại gần, vuốt ve hay chọcphá chó mèo lạ động vật hoang . Cảnh giác với những con vật biểu hiện hung dữ, cắnngười khi không bị trêu chọc, thay đổi trong tiếng sủa, chảy nước dãi, sợ nước, đi đứng loạngchoạng, Chán ăn, khó nuốt, mắt đỏ ngầu…;
Xử vết thương kịp thời sau khi bị cắn hoặc liếm: Rửa vết thương bằng phòngdưới vòi nước chảy ít nhất 15 phút, sát trùng bằng cồn hoặc dung dịch sát khuẩn, sau đó đến sở y tế ngay để được đánh giá điều trị dự phòng.
Báo cáo động vật nghi mắc bệnh: Thông báo choquan thú y hoặc chính quyềnđịa phương nếu phát hiện động vật nghi nhiễm dại hoặc gây thương tích. Hỗ trợ giám sát, kiểmtra xử dịch đúng quy định.
Giáo dục cộng đồng: Tuyên truyền kiến thức về bệnh dại trong cộng đồng, đặc biệttại vùng nông thôn, giúp nâng cao nhận thức chủ động phòng ngừa.

Theo các chuyên gia y tế, dại căn bệnhtửnhưng hoàn toàn thể dự phòng tránhđược hậu quả xấu. Các phương pháp phòng tránh lây nhiễm bệnh dại bao gồm:

1. Tiêm phòng dại cho người vật nuôi

Tiêm phòng dại cho cả người vật nuôi phương pháp phòng tránh lây nhiễm bệnh dạihiệu quả, an toàn tiết kiệm nhất. Việc tiêm phòng dại trước phơi nhiễm sẽ giúp thể tạo rakháng thể đáp ứng miễn dịch thông qua các tế bào lympho ghi nhớmiễn dịch”. Nhờ đó, trong trường hợp sau khi phơi nhiễm virus dại, tiêm liều vắc xin dại nhắc lại, phản ứng miễn dịchxuất hiện nhanh mạnh hơn. Đồng thời, việc thực hiện sẽ ít mũi tiêm hơn so với chưa tiêmchủng dự phòng.

Lịch tiêm phòng vắc xin dại trước phơi nhiễmngười như sau:

Phác đồ tiêm bắp

Liều tiêm: 0,5ml/1 liều
Liều bản: Vào các ngày N0 – N7 – N21 (hoặc N28).
Liều nhắc 1 năm sau liều bản, sau đó nhắc lại mỗi 5 năm*.

Phác đồ tiêm trong da

Liều tiêm: 0,1ml/1 liều
Liều bản: Vào các ngày N0 – N7 – N21 (hoặc N28).
Liều nhắc 1 năm sau liều bản, sau đó nhắc lại mỗi 5 năm*.

(*) Dành cho người nguy cao như nhân viên làm trong phòng thí nghiệm vềnghiên cứu hay sản xuất liên quan đến Dại, bác thú y, người thám hiểm hang động, người điềukhiển thú người gác rừng trong vùng bệnh dạiđộng vật

Tài liệu tham khảo

1. World. (2024, June 5). Rabies. Who.int; World Health Organization: WHO. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/rabies
2. MD, T. (2021, October 6). News-Medical. News-Medical. https://www.news-medical.net/health/Furious-Rabies-vs-Dumb-Rabies.aspx.
3. Gompf, S. G. (2024, October 28). Rabies: Practice Essentials, Background, Etiology. Medscape.com; Medscape. https://emedicine.medscape.com/article/220967-overview?form=fpf
4. Lu, X.-X., Zhu, W.-Y., & Wu, G.-Z. (2018). Rabies virus transmission via solid organs or tissue allotransplantation. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC6092857/
5. Mshelbwala, P. P., Rupprecht, C. E., Osinubi, M. O., Njoga, E. O., Orum, T. G., Weese, J. S., & Clark, N. J. (2024). Factors influencing canine rabies vaccination among dog-owning households in Nigeria. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC11141449/
6. CDC. (2025, April 30). About Rabies. Rabies. https://www.cdc.gov/rabies/about/index.html
7. Liu, Q., Wang, X., Liu, B., Gong, Y., Naomie Mkandawire, Li, W., Fu, W., Li, L., Gan, Y., Shi, J., Shi, B., Liu, J., Cao, S., & Lu, Z. (2017). Improper wound treatment and delay of rabies post-exposure prophylaxis of animal bite victims in China: Prevalence and determinants. PMC Home. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC5519202/

BS DƯƠNG QUỐC HIỀN

TRƯỞNG KHOA TRUYỀN NHIỄM

 

TỔNG ĐÀI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH

1900585888 (bấm phím 1)