Tìm hiểu về Hanta virus và những bệnh lý liên quan

Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết, theo cập nhật từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đến ngày 8/5/26 đã ghi nhận 8 ca mắc bệnh do virus Hanta trên tàu du lịch quốc tế MV Hondius, có 6 trường hợp được xét nghiệm xác định nhiễm virus Hanta. Đã có 3 ca tử vong, trong đó 2 trường hợp chưa được xét nghiệm. Hiện còn 5 bệnh nhân đang tiếp tục được theo dõi. Các mẫu xét nghiệm đều cho kết quả dương tính với virus Hanta, chủng Andes (ANDV). Tại Việt Nam hiện chưa ghi nhận ca bệnh do virus Hanta lây từ chuột (8/5/2026).

Virus Hanta là tác nhân gây bệnh lây truyền từ động vật gặm nhấm sang người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm thế giới ước tính ghi nhận từ 10.000 đến hơn 100.000 ca nhiễm Hantavirus.

Virus Hanta được đặt tên theo khu vực địa lý, theo hồ sơ y tế của US CDC, tên gọi “Hanta” xuất phát từ Sông Hantaan ở Hàn Quốc.

  • Năm 1951 – 1953: Trong chiến tranh Triều Tiên, hơn 3.000 binh sĩ Liên Hiệp Quốc đã mắc căn bệnh lạ và gây sốt xuất huyếtvà suy thận nghiêm trọng.
  • Năm 1976: Bác sĩ kiêm nhà vi sinh vật học Hàn Quốc Ho Wang Lee và các cộng sự bắt đầu phân lập thành công virus này từ phổi của loài chuột. Phát hiện này đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu virus này.

Virus Hanta chủ yếu lây sang người qua đường hô hấp khi hít phải bụi hoặc khí dung có chứa virus từ nước tiểu, phân hay nước bọt của chuột nhiễm bệnh. Ngoài ra, virus cũng có thể lây khi tiếp xúc trực tiếp với chuột hoặc chạm vào bề mặt nhiễm virus rồi đưa tay lên mắt, mũi hoặc miệng. Trong một số trường hợp hiếm gặp, người bệnh có thể bị lây do chuột cắn.

Động vật gặm nhấm (chuột) bị nhiễm virus Hanta sẽ mang mầm bệnh suốt đời nhưng không có biểu hiện triệu chứng. Virus được đào thải liên tục ra môi trường bên ngoài thông qua ba con đường chính: Nước tiểu, phân và nước bọt của chúng. Con người vô tình trở thành vật chủ phụ khi tiếp xúc với các chất thải này qua các cơ chế sau:

  • Hít phải hạt khí dung phát tán từ phân, nước tiểu chuột: Đây là con đường phổ biến nhất, chiếm đại đa số các ca mắc virus Hanta. Khi phân hoặc nước tiểu khô của chuột bị xáo trộn (do quét dọn, chuyển đồ), các hạt virus siêu nhỏ sẽ bay lơ lửng trong không khí dưới dạng khí dung. Người lành hít phải các hạt này sẽ bị nhiễm bệnh.
  • Tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây: Bệnh nhân chạm tay vào chất thải của chuột hoặc bề mặt có dính virus, sau đó vô tình đưa tay lên mắt, mũi miệng. Hoặc qua các vết cắn của chuột.

Hầu hết các chủng Hantavirus KHÔNG lây truyền giữa người với người. Tuy nhiên, một ngoại lệ duy nhất được ghi nhận là Ander virus ở Nam Mỹ. Các nghiên cứu dịch tễ học xác nhận chủng này có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc gần gũi trong gia đình hoặc môi trường chăm sóc y tế không được bảo vệ.

Khả năng tiếp xúc và nhiễm Hantavirus tăng cao rõ rệt đối với các nhóm đối tượng và điều kiện môi trường sau:

  • Môi trường sống có chuột: Sống gần các cánh đồng, bãi rác, kho thóc, hoặc nhà cửa không được bịt kín tạo điều kiện cho chuột vào làm tổ.
  • Nghề nghiệp tiếp xúc động vật: Những người làm việc trong môi trường có nhiều động vật như nông dân, công nhân môi trường, công nhân lâm nghiệp, người làm công tác thực địa, người dọn dẹp kho bãi cũ có nguy cơ cao do thường xuyên tiếp xúc với môi trường hoang dã hoặc nơi chuột làm tổ.

Thời gian ủ bệnh của virus Hanta là khoảng từ vài ngày đến vài tuần, tùy thuộc vào loại virus và cơ địa của từng người. Thông thường, ở các trường hợp nhiễm trùng Hantavirus, người bệnh bắt đầu xuất hiện các triệu chứng đầu tiên trong khoảng từ 1 đến 8 tuần kể từ khi tiếp xúc với nguồn lây nhiễm.

Giai đoạn đầu gồm sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ nhiều vùng, cảm giác rát cổ họng, rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và phát ban nhẹ. Cả hai thể bệnh HPS và HFRS đều có giai đoạn khởi phát rất giống với bệnh cúm mùa hoặc sốt xuất huyết thông thường, kéo dài từ 3-5 ngày

Dấu hiệu tiến triển nặng:

  • Ở thể phổi (HPS – Hantavirus Pulmonary Syndrome): Cực kỳ nguy hiểm. Tỷ lệ tử vong cáo lên đến 50%. phân bố chủ yếu ở Hoa Kỳ, chủ yếu ở các bang phía Tây Nam, Canada, chủ yếu ở các tỉnh phía Tây, Nam Mỹ và Panama Bệnh diễn tiến rất nhanh, bệnh nhân có thể suy hô hấp cấp và tử vong chỉ sau vài giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng khó thở đầu tiên. Từ ngày thứ 4 -10 virus tấn công phổi. Bệnh nhân xuất hiện ho khan, tức ngực ho khan, tức ngực và nhanh chóng rơi vào trạng thái khó thở dữ dội. Phổi bị phù đặc dẫn đến suy hô hấp cấp. Tốc độ diễn tiến cực nhanh, đòi hỏi phải thở máy lập tức.
  • Ở thể Thận (HFRS – Hemorrhagic Fever with Renal Syndrome): chủ yếu phân bố ở Châu Âu và Châu Á. Các triệu chứng của HFRS thường xuất hiện trong vòng 1 đến 2 tuần sau khi tiếp xúc. Trong những trường hợp hiếm gặp, có thể mất đến 8 tuần để các triệu chứng xuất hiện. Các triệu chứng ban đầu bắt đầu đột ngột sau đó trên da xuất hiện các nốt xuất huyết, mắt đỏ (xuất huyết kết mạc). Thận bị tổn thương nặng gây thiểu niệu (ít tiểu) hoặc vô niệu (không có nước tiểu). Bệnh nhân bị ứ nước, phù nề toàn thân và suy thận cấp, đòi hỏi phải lọc máu khẩn cấp. Tỷ lệ tử vong dao động từ 1% đến 15% tùy thuộc vào chủng virus (chủng Dobrava nặng nhất, chủng Seoul nhẹ hơn).

Việc chẩn đoán bệnh do Hantavirus chủ yếu dựa vào việc phát hiện kháng thể, thông qua xét nghiệm:

Xét nghiệm vi sinh và miễn dịch học

  • Xét nghiệm miễn dịch enzyme (ELISA):Đây là phương pháp phổ biến nhất để chẩn đoán xác định. Xét nghiệm này giúp tìm các kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh bệnh nhân:
  • Kháng thể IgM: Xuất hiện rất sớm ngay khi có triệu chứng lâm sàng đầu tiên, minh chứng cho tình trạng nhiễm trùng cấp tính.
  • Kháng thể IgG: Xuất hiện muộn hơn nhưng nồng độ sẽ tăng lên gấp 4 lần trong giai đoạn phục hồi.
  • Xét nghiệm PCR (RT – PCR):Kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase phiên mã được dùng để phát hiện trực tiếp vật chất di truyền (RNA) của virus Hanta trong máu, dịch tiết hoặc các mẫu mô sinh thiết. Phương pháp này cực kỳ có giá trị ở giai đoạn này rất sớm của bệnh, khi cơ thể chưa kịp sản sinh ra kháng thể để xét nghiệm ELISA phát hiện.

Xét nghiệm hóa sinh và huyết học bổ trợ

Các chỉ số cận lâm sàng giúp đánh giá mức độ tổn thương cơ quan đích và định hướng thể bệnh:

  • Công thức máu: Ghi nhận số lượng tiểu cầu giảm mạnh (thrombocytopenia) và bạch cầu tăng cao bất thường.
  • Chức năng thận: Ở thể bệnh Thận (HFRS), nồng độ Creatinine và Urea trong máu tăng vọt, xuất hiện protein và hồng cầu trong nước tiểu, minh chứng cho tình trạng suy thận cấp.
  • X-quang hoặc CT-scan ngực: Ở thể bệnh Phổi (HPS), hình ảnh chụp chiếu sẽ cho thấy tổn thương thâm nhiễm tiến triển đối xứng hai bên phổi, bóng tim bình thường nhưng có dịch tràn ngập phế nang (phù phổi non-cardiogenic).

Một số triệu chứng của bệnh gây ra bởi virus Hanta tương tự với một số dịch bệnh nguy hiểm: cúm, sốt xuất huyết Dengue, COVID,… Vì thế, khi có các triệu chứng nghi ngờ, bạn nên đến gặp bác sĩ để được khám và làm các xét nghiệm chẩn đoán chuyên biệt.

Hiện tại, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (thuốc kháng virus dứt điểm) và chưa có vắc xin phòng ngừa đại trà được phê duyệt cho các chủng Hantavirus. Việc điều trị bệnh cần được chăm sóc hỗ trợ, bao gồm nghỉ ngơi, bù nước và điều trị các triệu chứng.

Hỗ trợ điều trị theo từng thể bệnh lâm sàng

  • Đối với Thể hội chứng Phổi (HPS):
  • Liệu pháp oxy: Bệnh nhân phải được thở oxy dòng cao hoặc thở máy xâm nhập ngay khi có dấu hiệu suy hô hấp nhằm ngăn chặn tình trạng thiếu oxy mô nghiêm trọng.
  • Kỹ thuật ECMO (Tim phổi nhân tạo): Trong các trường hợp suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) nặng mà máy thở không đáp ứng, ECMO là giải pháp cứu cánh tối ưu. Kỹ thuật này giúp cơ thể trao đổi oxy ngoài cơ thể để hệ hô hấp và tim mạch có thời gian phục hồi, giúp giảm đáng kể tỷ lệ tử vong.
  • Kiểm soát dịch truyền: Phải cực kỳ thận trọng khi truyền dịch vì việc quá tải tuần hoàn sẽ khiến tình trạng phù phổi trở nên trầm trọng hơn.
  • Đối với Thể sốt xuất huyết kèm hội chứng Thận (HFRS):
  • Cân bằng nước và điện giải: Theo dõi sát sao lượng dịch vào – ra của cơ thể. Duy trì huyết áp ổn định bằng dịch truyền và các thuốc vận mạch nếu có tình trạng sốc giảm thể tích.
  • Lọc máu cấp cứu (Thận nhân tạo): Trong giai đoạn bệnh nhân bị thiểu niệu hoặc vô niệu (không có nước tiểu), việc lọc máu liên tục hoặc chạy thận nhân tạo là bắt buộc để đào thải các độc tố chuyển hóa, cân bằng kali máu, duy trì sự sống cho đến khi nhu mô thận tự phục hồi chức năng.

Ribavirin là loại thuốc duy nhất được sử dụng để điều trị các trường hợp nhiễm hantavirus nặng ở châu Âu. Tuy nhiên, đối với thể bệnh Phổi (HPS), thuốc này hầu như không mang lại hiệu quả lâm sàng rõ rệt.

Hiện chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu được xem là phương pháp điều trị chuẩn cho hội chứng tim phổi do Hantavirus..

Ribavirin từng ghi nhận hiệu quả trong điều trị sớm thể bệnh do Hantavirus có liên quan đến thận. Tuy nhiên, thuốc có thể gây tác dụng không mong muốn như thiếu máu tán huyết, tăng bilirubin trong máu, nhịp tim chậm và phát ban. Ribavirin chưa cho thấy hiệu quả khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn ảnh hưởng tim phổi và hiện không được khuyến cáo để điều trị hội chứng phổi do virus này gây ra.

Favipiravir được ghi nhận có hiệu quả cao hơn ribavirin trong một số nghiên cứu và không gây thiếu máu như tác dụng phụ. Trên mô hình động vật, thuốc giúp giảm lượng virus trong máu và kháng nguyên trong phổi khi dùng sớm, nhưng không cho thấy hiệu quả tương tự nếu dùng muộn hơn.

Cục Phòng bệnh khẳng định: Đến nay, nước ta chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do vi rút Hanta trên người. Tuy nhiên, trong bối cảnh nước ta chuột khá phổ biến, để chủ động phòng, chống dịch bệnh do virus Hanta và các bệnh dịch khác lây truyền từ chuột sang người, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp:

  • Một là, không chạm tay trực tiếp vào chuột sống, chuột chết, phân, nước tiểu, nước bọt hoặc ổ chuột.
  • Hai là, khi dọn dẹp nơi có dấu vết của chuột: mở cửa cho thông thoáng, đeo găng tay và khẩu trang; phun ướt khu vực có phân, nước tiểu hoặc nơi chuột làm tổ bằng dung dịch khử khuẩn hoặc nước tẩy rửa thông thường trước khi lau dọn. Không quét khô, không dùng máy hút bụi hoặc máy thổi, vì có thể làm bụi nhỏ chứa mầm bệnh bay trong không khí, người hít phải bụi này có thể bị nhiễm bệnh.
  • Ba là, lưu ý rửa tay bằng xà phòng sau khi dọn vệ sinh, xử lý rác, tiếp xúc với chuột hoặc khu vực có nguy cơ.
  • Bốn là, bịt kín khe hở để chuột không vào nhà; đặt bẫy khi cần; cất thức ăn, nước uống trong đồ chứa kín; thu gom rác hằng ngày để không thu hút chuột.
  • Năm là, sau khi tiếp xúc với chuột hoặc nơi có phân, nước tiểu, nơi chuột làm tổ, nếu xuất hiện sốt, ớn lạnh, đau đầu, chóng mặt, đau cơ, buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc tiêu chảy, người dân cần đến ngay cơ sở y tế và thông báo rõ nguy cơ tiếp xúc với chuột để được khám, điều trị kịp thời.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. American Lung Association. (n.d.). Learn about hantavirus pulmonary syndrome. https://www.lung.org/lung-health-diseases/lung-disease-lookup/hantavirus-pulmonary-syndrome/learn-about-hantavirus-pulmonary-syndrome-hps
  2. Hantavirus pulmonary syndrome – Symptoms & causes – Mayo Clinic. (2025, April 30). Mayo Clinic. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/hantavirus-pulmonary-syndrome/symptoms-causes/syc-20351838
  3. Muyangwa, M., Martynova, E. V., Khaiboullina, S. F., Morzunov, S. P., & Rizvanov, A. A. (2015). Hantaviral proteins: Structure, functions, and role in hantavirus infection. Frontiers in Microbiology, 6, 1326. https://doi.org/10.3389/fmicb.2015.01326
  4. Wikipedia contributors. (2026, May 7). Hantavirus pulmonary syndrome.
  5. World Health Organization: WHO. (2026, May 5). Hantavirus. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hantavirus

BS.CKI. Dương Quốc Hiền – Trưởng khoa Truyền nhiễm

Bệnh viện Đa khoa An Giang

 

TỔNG ĐÀI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH

1900585888 (bấm phím 1)