Home / Tài liệu - văn bản / THUỐC CHỐNG ĐÔNG ĐƯỜNG UỐNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN CÓ BỆNH THẬN MẠN TÍNH: TỔNG QUAN HỆ THỐNG VÀ PHÂN TÍCH TỔNG HỢP

THUỐC CHỐNG ĐÔNG ĐƯỜNG UỐNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN CÓ BỆNH THẬN MẠN TÍNH: TỔNG QUAN HỆ THỐNG VÀ PHÂN TÍCH TỔNG HỢP

Bản gốc

2019 May 8. pii: 10.1212/WNL.0000000000007534. doi: 10.1212/WNL.0000000000007534.

Oral anticoagulation in patients with chronic kidney disease: A systematic review and meta-analysis.

Malhotra K1Ishfaq MF2Goyal N2Katsanos AH2Parissis J2Alexandrov AW2Alexandrov AV2Tsivgoulis G2.

Abstract

OBJECTIVE:

Data regarding the efficacy and safety of warfarin and non-vitamin K antagonist oral anticoagulant (NOAC) among patients with chronic kidney disease (CKD) remain scarce.

METHODS:

Systematic review and meta-analysis of studies involving patients with CKD treated with oral anticoagulants were conducted to evaluate the following outcomes: ischemic stroke, intracerebral hemorrhage (ICH), combined ischemic and hemorrhagic stroke (strokecombined), stroke or systemic embolism, mortality, and major bleeding events. CKD was defined based on creatinine clearance (CrCl) ranging from mild (CrCl: 60-89 mL/min), moderate (CrCl: 30-59 mL/min), to severe (CrCl: 15-29 mL/min).

RESULTS:

Fifteen studies (7 comparing NOAC vs warfarin and 8 comparing warfarin vs no anticoagulant) were identified comprising 78,053 patients. Warfarin (vs no anticoagulant) was associated with reduced risk of ischemic stroke (risk ratio [RR] = 0.68; 95% confidence interval [CI] 0.55-0.84]) and mortality (RR = 0.70; 95% CI 0.62-0.78). In comparison to warfarin, NOAC use lowered the risk of ICH (RR = 0.43; 95% CI 0.33-0.56), stroke combined (RR = 0.83; 95% CI 0.72-0.96), stroke or systemic embolism (RR = 0.73; 95% CI 0.62-0.85), and major bleeding (RR = 0.77; 95% CI 0.66-0.90). In adjusted analyses, warfarin use (vs no anticoagulant) was associated with reduced mortality (HRadj = 0.68; 95% CI 0.61-0.76), whereas NOAC (vs warfarin) use reduced the risk of ICH (HRadj = 0.39; 95% CI 0.30-0.50) and stroke or systemic embolism (HRadj = 0.75; 95% CI 0.65-0.88). Our sensitivity analyses comparing different NOACs exhibited that factor Xa inhibitors (compared to warfarin) consistently reduced stroke combined (RR = 0.84; 95% CI 0.73-0.96), mortality (RR = 0.84; 95% CI 0.70-1.00), ICH (RR = 0.45; 95% CI 0.24-0.85), and major bleeding (RR = 0.76; 95% CI 0.64-0.91).

CONCLUSIONS:

Among patients with CKD treated with oral anticoagulants, NOACs present with a more favorable safety and efficacy profile for various cardiovascular outcomes.

Bản dịch

THUỐC CHỐNG ĐÔNG ĐƯỜNG UỐNG Ở NHỮNG BỆNH NHÂN CÓ BỆNH THẬN MẠN TÍNH: TỔNG QUAN HỆ THỐNG VÀ PHÂN TÍCH TỔNG HỢP

Mục tiêu:

Dữ liệu liên quan đến hiệu quả và an toàn của thuốc chống đông máu kháng warfarin và thuốc chống đông không kháng vitamin k (NOAC) ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính (CKD) vẫn còn khan hiếm.

Phương pháp:

Tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến bệnh nhân suy thận được điều trị bằng thuốc chống đông đường uống được thực hiện để đánh giá các kết quả sau đây: đột quỵ do thiếu máu cục bộ, xuất huyết nội sọ (ICH), đột quỵ do thiếu máu cục bộ và đột quỵ xuất huyết (đột quỵ) biến cố chảy máu lớn. Suy thận mạn (CKD) được xác định dựa trên độ thanh thải creatinin (CrCl) từ nhẹ (CrCl: 60-89 mL / phút), trung bình (CrCl: 30-59 mL / phút), đến nặng (CrCl: 15-29 mL / phút).

Kết quả:

Mười lăm nghiên cứu (7 so sánh NOAC với warfarin và 8 so sánh warfarin với không có thuốc chống đông máu) đã được xác định bao gồm 78.053 bệnh nhân. Warfarin (so với không có thuốc chống đông máu) có liên quan đến việc giảm nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ (tỷ lệ rủi ro [RR] = 0,68; khoảng tin cậy 95% [CI] 0,55-0,84]) và tỷ lệ tử vong (RR = 0,70; KTC 95% 0,62-0,78). So với warfarin, NOAC sử dụng làm giảm nguy cơ ICH (RR = 0,43; KTC 95% 0,33-0,56), đột quỵ kết hợp (RR = 0,83; 95% CI 0,72-0,96), đột quỵ hoặc thuyên tắc hệ thống (RR = 0,73; 95% CI 0,62-0,85) và chảy máu lớn (RR = 0,77; KTC 95% 0,66-0,90). Trong các phân tích có hiệu chỉnh, sử dụng warfarin (so với không dùng thuốc chống đông máu) có liên quan đến giảm tỷ lệ tử vong (HR = 0,68; 95% CI 0,61-0,76), trong khi sử dụng NOAC (so với warfarin) làm giảm nguy cơ ICH (HR = 0,39; 95% CI 0,30 -0,50) và đột quỵ hoặc thuyên tắc hệ thống (HR = 0,75; 95% CI 0,65-0,88). Các phân tích độ nhạy của chúng tôi so sánh các NOAC khác nhau cho thấy các chất ức chế yếu tố Xa (so với warfarin) luôn giảm đột quỵ (RR = 0,84; 95% CI 0,73-0,96), tỷ lệ tử vong (RR = 0,84; CI 95% 0,70-1,00), ICH (RR = 0,45; KTC 95% 0,24-0,85) và chảy máu lớn (RR = 0,76; KTC 95% 0,64-0,91).

Kết luận:

Trong số các bệnh nhân bị bệnh thận mạn ( CKD ) được điều trị bằng thuốc chống đông đường uống, hoặc NOAC có một dữ liệu hiệu quả và an toàn thuận lợi hơn cho các kết quả tim mạch khác nhau.

Người dịch BS Phạm Huỳnh Minh Trí khoa Tim mạch BVĐKTT An Giang