Tác dụng của Hydrocortison đối với sự tiến triển của sốc ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết nặng: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên HYPRESS.

Effect of Hydrocortisone on Development of Shock Among Patients With Severe Sepsis: The HYPRESS Randomized Clinical Trial.

Keh D1Trips E2Marx G3Wirtz SP4Abduljawwad E4Bercker S5Bogatsch H2Briegel J6Engel C7Gerlach H8Goldmann A1Kuhn SO9Hüter L10Meier-Hellmann A11Nierhaus A12Kluge S12Lehmke J13Loeffler M7Oppert M14Resener K15Schädler D16Schuerholz T3Simon P5Weiler N16Weyland A17Reinhart K18Brunkhorst FM19SepNet–Critical Care Trials Group.

Author information

Abstract

IMPORTANCE:

Adjunctive hydrocortisone therapy is suggested by the Surviving Sepsis Campaign in refractory septic shock only. The efficacy of hydrocortisone in patients with severe sepsis without shock remains controversial.

OBJECTIVE:

To determine whether hydrocortisone therapy in patients with severe sepsis prevents the development of septic shock.

DESIGN, SETTING, AND PARTICIPANTS:

Double-blind, randomized clinical trial conducted from January 13, 2009, to August 27, 2013, with a follow-up of 180 days until February 23, 2014. The trial was performed in 34 intermediate or intensive care units of university and community hospitals in Germany, and it included 380 adult patients with severe sepsis who were not in septic shock.

INTERVENTIONS:

Patients were randomly allocated 1:1 either to receive a continuous infusion of 200 mg of hydrocortisone for 5 days followed by dose tapering until day 11 (n = 190) or to receive placebo (n = 190).

MAIN OUTCOMES AND MEASURES:

The primary outcome was development of septic shock within 14 days. Secondary outcomes were time until septic shock, mortality in the intensive care unit or hospital, survival up to 180 days, and assessment of secondary infections, weaning failure, muscle weakness, and hyperglycemia (blood glucose level >150 mg/dL [to convert to millimoles per liter, multiply by 0.0555]).

RESULTS:

The intention-to-treat population consisted of 353 patients (64.9% male; mean [SD] age, 65.0 [14.4] years). Septic shock occurred in 36 of 170 patients (21.2%) in the hydrocortisone group and 39 of 170 patients (22.9%) in the placebo group (difference, -1.8%; 95% CI, -10.7% to 7.2%; P = .70). No significant differences were observed between the hydrocortisone and placebo groups for time until septic shock; mortality in the intensive care unit or in the hospital; or mortality at 28 days (15 of 171 patients [8.8%] vs 14 of 170 patients [8.2%], respectively; difference, 0.5%; 95% CI, -5.6% to 6.7%; P = .86), 90 days (34 of 171 patients [19.9%] vs 28 of 168 patients [16.7%]; difference, 3.2%; 95% CI, -5.1% to 11.4%; P = .44), and 180 days (45 of 168 patients [26.8%] vs 37 of 167 patients [22.2%], respectively; difference, 4.6%; 95% CI, -4.6% to 13.7%; P = .32). In the hydrocortisone vs placebo groups, 21.5% vs 16.9% had secondary infections, 8.6% vs 8.5% had weaning failure, 30.7% vs 23.8% had muscle weakness, and 90.9% vs 81.5% had hyperglycemia.

CONCLUSIONS AND RELEVANCE:

Among adults with severe sepsis not in septic shock, use of hydrocortisone compared with placebo did not reduce the risk of septic shock within 14 days. These findings do not support the use of hydrocortisone in these patients.

Tác dụng của Hydrocortison đối với sự tiến triển của sốc ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết nặng: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên HYPRESS.

TÓM TẮT

TẦM QUAN TRỌNG:

Liệu pháp thêm vào hydrocortisone được đề xuất bởi Surviving Sepsis Campaign chỉ chỉ định trong sốc nhiễm trùng kháng trị. Hiệu quả của hydrocortison ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết nặng mà không bị sốc vẫn còn gây tranh cãi.

MỤC TIÊU:

Để xác định liệu liệu pháp hydrocortison ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết nặng có ngăn ngừa sự phát triển của sốc nhiễm trùng hay không.

THIẾT KẾ, THIẾT LẬP, VÀ NGƯỜI THAM GIA:

Thử nghiệm lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên được thực hiện từ ngày 13 tháng 1 năm 2009 đến ngày 27 tháng 8 năm 2013 với thời gian theo dõi 180 ngày cho đến ngày 23 tháng 2 năm 2014. Thử nghiệm được thực hiện tại 34 đơn vị chăm sóc trung cấp hoặc chuyên sâu của các bệnh viện đại học và bệnh viện cộng đồng ở Đức, bao gồm 380 bệnh nhân trưởng thành bị nhiễm trùng huyết nặng không bị sốc nhiễm trùng.

CAN THIỆP

Bệnh nhân được phân bổ ngẫu nhiên 1: 1 để được truyền liên tục 200 mg hydrocortison trong 5 ngày sau đó giảm liều cho đến ngày 11 (n = 190) hoặc nhận giả dược (n = 190).

KẾT CỤC CHÍNH VÀ ĐO LƯỜNG

Kết cục chính là sự phát triển của sốc nhiễm trùng trong vòng 14 ngày. Kết cục thứ phát là thời gian cho đến khi bị sốc nhiễm trùng, tử vong ở phòng chăm sóc đặc biệt hoặc bệnh viện, sống sót tới 180 ngày và đánh giá nhiễm trùng thứ phát, yếu cơ và tăng đường huyết (mức đường huyết> 150 mg /dl)

KẾT QUẢ:

Dân số can thiệp điều trị bao gồm 353 bệnh nhân (64,9% nam; tuổi trung bình [SD] 65,0). Sốc nhiễm khuẩn xảy ra ở 36 trong số 170 bệnh nhân (21,2%) trong nhóm hydrocortison và 39 trong số 170 bệnh nhân (22,9%) trong nhóm giả dược (chênh lệch, -1,8%; CI 95%, -10,7% đến 7,2%; P =. 70). Không có sự khác biệt đáng kể đã được quan sát giữa các nhóm hydrocortison và giả dược trong thời gian cho đến khi sốc nhiễm trùng; tử vong trong phòng chăm sóc đặc biệt hoặc trong bệnh viện; hoặc tử vong sau 28 ngày (15 trong số 171 bệnh nhân [8,8%] so với 14 trong số 170 bệnh nhân [8.2%], tương ứng, chênh lệch 0,5%; 95% CI, -5,6% đến 6,7%; P = 0,86), 90 ngày (34 trong số 171 bệnh nhân [19,9%] so với 28 trên 168 bệnh nhân [16,7%]; chênh lệch, 3,2%; KTC 95%, -5,1% đến 11,4%; P = 0,44) và 180 ngày (45 trong 168 bệnh nhân [ 26,8%] so với 37 trong số 167 bệnh nhân [22,2%], tương ứng, chênh lệch 4,6%; KTC 95%, -4,6% đến 13,7%; P = 0,32). Trong nhóm hydrocortison so với nhóm giả dược, 21,5% so với 16,9% bị nhiễm trùng thứ phát, 8,6% so với 8,5% bị cai sữa, 30,7% so với 23,8% bị yếu cơ và 90,9% so với 81,5% bị tăng đường huyết.

KẾT LUẬN VÀ LIÊN QUAN:

Trong số những người trưởng thành bị nhiễm trùng huyết nặng không bị sốc nhiễm trùng, sử dụng hydrocortison so với giả dược không làm giảm nguy cơ sốc nhiễm trùng trong vòng 14 ngày. Những phát hiện này không hỗ trợ việc sử dụng hydrocortison ở những bệnh nhân này.