BỆNH TẢ (Chololerae) CÓ THỂ DỰ PHÒNG ĐƯỢC ?

BS.CKII. Dương Quốc Hiền

Trưởng khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Đa khoa An Giang

Bệnh tả là gì?

Bệnh tả ở người là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở đường tiêu hoá do vi khuẩn tả Vibrio cholerae gây ra. Biểu hiện bệnh tả chủ yếu là nôn và tiêu chảy với số lượng lớn, người bệnh dễ dẫn đến mất nước và điện giải trầm trọng, gây sốc nặng. Nếu bệnh nhân không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.

Trước đây, bệnh tả ở người đã gây những trận đại dịch lớn, gây tử vong cho hàng triệu người. Hiện nay, bệnh tả đã được khống chế ở nhiều nơi nhưng vẫn còn xảy ra những đợt dịch ở các nước châu Phi và một số nước châu Á. Bệnh tả ở Việt Nam vẫn còn xảy ra nhưng đa phần chỉ là những trường hợp tản phát, thường vào mùa hè ở các tỉnh ven biển.

Theo thông tin của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính từ đầu năm 2025 đến ngày 29/8/2025, WHO đã theo dõi 409.222 trường hợp mắc bệnh (4.738 ca tử vong) được báo cáo tại 31 quốc gia trên toàn cầu, trong đó ghi nhận 6/31 quốc gia báo cáo tỷ lệ tử vong trên 1%. Tuy số ca mắc giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng số ca tử vong lại tăng 46%.

WHO đánh giá tình hình dịch tả toàn cầu đang trở nên phức tạp, với các đợt bùng phát xảy ra ở 31 quốc gia với tỷ lệ tử vong tăng cao và được đánh giá là “Do quy mô, mức độ nghiêm trọng và tính chất liên kết của các đợt bùng phát này, nguy cơ lây lan thêm trong và giữa các quốc gia là rất cao”.

Hiện nay, khu vực châu Âu và Tây Thái Bình Dương chưa ghi nhận bất kỳ đợt bùng phát nào, chủ yếu các nước ghi nhận ở khu vực khu vực Đông Địa Trung Hải và khu vực châu Phi.

Theo Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, trong 12 năm gần đây, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh tả. Tuy nhiên, không loại trừ nguy cơ bệnh tả xâm nhập Việt Nam do sự giao lưu thương mại, du lịch rộng mở của nước ta với các nước khác trên thế giới và có thể lây lan ra cộng đồng.

Nguyên nhân

Vi khuẩn Vibrio cholerae là nguyên nhân gây ra bệnh tả ở người. Vibrio cholerae có dạng cong hình dấu phẩy, có khả năng di động nhanh nhờ có một lông, chúng phát triển tốt trong môi trường có nhiều dinh dưỡng, môi trường kiềm như trong nước, thức ăn, trong cơ thể của các động vật biển (cá, cua, sò biển…)… đặc biệt là trong nhiệt độ lạnh, phẩy khuẩn tả có thể sống được vài ngày đến 2 – 3 tuần. Phẩy khuẩn tả có bị tiêu diệt bởi nhiệt độ (80°C/5 phút), hoá chất diệt khuẩn thông thường và môi trường axit.

Độc tố cholerae do vi khuẩn tả sản sinh trong ruột non chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra bệnh. Độc tố này liên kết với thành ruột, cản trở dòng chảy bình thường của natri và clorua, làm cho cơ thể tiết ra một lượng nước khổng lồ, dẫn đến tiêu chảy và nhanh chóng mất một lượng lớn nước và điện giải.

Nguồn nước ô nhiễm là nguồn bệnh chính của bệnh tả, ngoài ra sò ốc sống, trái cây tươi sống, rau quả và các loại thực phẩm khác cũng có thể chứa vi khuẩn cholerae.

Đường lây

Bệnh tả chủ yếu truyền qua nguồn thức ăn hoặc nguồn nước bị nhiễm khuẩn. Ở các nước phát triển, hải sản thường là nguyên nhân chính, còn ở các nước đang phát triển con đường truyền chủ yếu từ nguồn nước

Khi ăn phải thức ăn có chứa vi khuẩn, hầu hết chúng không thể sống sót được trong môi trường axit của dạ dày người. Một số vi khuẩn sống sót vượt qua khỏi dạ dày và đến ruột non, chúng sẽ di chuyển qua màng nhầy dày của ruột để đến thành ruột, nơi mà chúng có thể phát triển mạnh. Vi khuẩn V. cholerae bắt đầu sản xuất các sợi xoắn xoay để đẩy mình qua chất nhầy của thành ruột non.

Khi đến thành ruột, V. cholerae bắt đầu sản xuất các độc tố gây tiêu chảy lượng lớn ở người bị nhiễm. Hậu quả dẫn đến là đưa các lứa vi khuẩn mới vào nguồn nước uống và sẽ đi vào những vật chủ tiếp theo nếu không có các biện pháp vệ sinh thích hợp và đúng chỗ.

Đối tượng nguy cơ

Bệnh tả cực kỳ phổ biến ở những nơi có điều kiện vệ sinh kém, đông đúc, chiến tranh và nạn đói. Dịch tả thường xuất hiện ở những vùng như châu Phi, Nam Á và Mỹ Latinh. Bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi, nhưng sẽ nguy hiểm hơn nếu xuất hiện ở trẻ nhỏ.

Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ gây bệnh tả, chẳng hạn như:

Điều kiện vệ sinh kém
Sống ở các khu vực trại tị nạn, các nước nghèo và các khu vực bị tàn phá bởi nạn đói, chiến tranh hay thiên tai
Giảm hoặc không có axit dạ dày
Người nhóm máu O: các nghiên cứu gen mới đây cho thấy rằng mức độ dễ bị lây nhiễm của một người đối với bệnh tả phụ thuộc vào nhóm máu của họ. Người có nhóm máu O dễ bị lây nhiễm nhất trong khi người có nhóm máu AB có khả năng kháng cự nhiều nhất, gần như là miễn nhiễm.
Ăn thức ăn chưa được nấu chín và các loài hải sản có vỏ.

Các thể lâm sàng:

Khoảng 75% người nhiễm vi khuẩn tả là không có biểu hiện triệu chứng bệnh, tuy nhiên họ vẫn đào thải vi khuẩn ra môi trường trong vòng 7-14 ngày. Trong số những người có biểu hiện triệu chứng, 80% là ở thể nhẹ và vừa, 20% có biểu hiện mất nước nặng.

Bệnh tả ở trẻ em: gặp phổ biến là thể nhẹ giống như bệnh tiêu chảy thông thường. Ở những trẻ lớn hơn, tiêu chảy và nôn mửa xảy ra giống như người lớn, có thể kèm theo sốt nhẹ.
Bệnh tả ở người già: thường dẫn đến biến chứng suy thận dù đã được bù dịch đầy đủ.

Triệu chứng bệnh Bệnh tả

Các biểu hiện chính của bệnh tả là tiêu chảy nhiều, không đau bụng và nôn mửa những chất lỏng trong suốt. Tiêu chảy đã từng được mệnh danh là “cái chết xanh” do da của bệnh nhân chuyển sang sắc xám xanh là kết quả của việc mất quá nhiều nước

Thời kỳ ủ bệnh: Kéo dài từ vài giờ cho đến 5 ngày.

Thời kỳ khởi phát: Biểu hiện chủ yếu là sôi bụng, đầy bụng, tiêu chảy vài lần.

Thời kỳ toàn phát:

Tiêu chảy liên tục, đi ngoài rất nhiều lần với khối lượng lớn, có khi 10 đến 20 lít nước chất thải một ngày. Đặc điểm phân trong bệnh tả điển hình chỉ toàn là nước, màu trắng lờ đục như nước vo gạo, không thấy có nhầy máu.
Nôn mửa rất dễ dàng, lúc đầu nôn ra thức ăn, lúc sau nôn toàn nước.
Bệnh nhân mắc bệnh tả thường không sốt, ít khi đau bụng.
Tình trạng mất điện giải gây mệt lả, chuột rút…
Triệu chứng mất nước: tụt huyết áp, mạch nhanh, mắt trũng, da nhăn nheo, giảm nước tiểu….

Thời kỳ hồi phục: Bệnh tả ở người thường diễn biến từ 1 – 3 ngày nếu được bù đủ nước và điều trị kháng sinh phù hợp.

Các xét nghiệm cần thiết trong bệnh Bệnh tả

Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng thông qua hỏi bệnh và thăm khám. Sau đó, bác sĩ sẽ đề nghị các xét nghiệm để chẩn đoán xác định:

Soi phân: giúp chẩn đoán nhanh. Soi phân dưới kính hiển vinền đen sẽ thấy phẩy khuẩn tả di động mạnh trong phân, nhuộm Gram cho hình ảnh phẩy khuẩn không bắt màu Gram.
Cấy phân: phải lấy phân sớm khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy lần đầu tiên và trước khi điều trị kháng sinh. Cấy phân vào môi trường chuyên biệt: phẩy khuẩn tả sẽ mọc rất nhanh và có thể xác định sau 24 giờ cấy.
Kỹ thuật PCR tìm gen CTX: giúp chẩn đoán bệnh tả nhanh (nếu có điều kiện).
Cô đặc máu: Hematocrit tăng.
Rối loạn điện giải: giảm kali, giảm bicarbonat, pH thấp.
Suy thận: nồng độ ure và creatinin máu tăng trong những trường hợp bệnh tả nặng

Các biện pháp điều trị

Nguyên tắc điều trị bệnh tả ở người

Cách ly bệnh nhân nhiễm phẩy khuẩn tả.
Bổ sung nước và điện giải nhanh chóng, đầy đủ là quan trọng nhất.
Sử dụng thuốc kháng sinh để diệt vi khuẩn.

Điều trị cụ thể:

Bù nước và điện giải: mục tiêu là để thay thế nước và các chất điện giải bằng các loại dịch qua đường uống (oresol, nước cam chanh…)
Dịch truyền tĩnh mạch: trong bệnh tả, hầu hết triệu chứng sẽ giảm nếu được bù nước bằng đường uống, nhưng nếu bệnh nhân mất nước nghiêm trọng, bác sĩ có thể cho truyền dịch tĩnh mạch 
Điều trị sớm bằng thuốc kháng khuẩn đường uống hiệu quả sẽ tiêu diệt vi khuẩn Vibrios, giảm 50% lượng phân và thường chấm dứt tiêu chảy trong vòng 48 giờ. Việc lựa chọn kháng sinh nên dựa trên tính nhạy cảm của V. cholerae phân lập từ cộng đồng. Một liều doxycycline hoặc azithromycin, Ciprofloxacin có thể có hiệu quả 
Doxycycline: Đối với bệnh nhân ≥ 12 tuổi, kể cả bệnh nhân đang mang thai, 1 liều duy nhất 300 mg; trẻ em < 12 tuổi tiêm 1 liều duy nhất 2 đến 4 mg/kg
Azithromycin: Đối với bệnh nhân ≥ 12 tuổi, kể cả bệnh nhân đang mang thai, uống 1 liều duy nhất 1 g; trẻ em < 12 tuổi uống 1 liều duy nhất 20 mg/kg (tối đa 1 g)
Ciprofloxacin: Đối với bệnh nhân ≥ 12 tuổi, kể cả bệnh nhân đang mang thai, uống 1 liều duy nhất 1 g; trẻ em < 12 tuổi uống 1 liều duy nhất 20 mg/kg (tối đa 1 g)
Bổ sung kẽm: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kẽm có thể làm giảm và rút ngắn thời gian tiêu chảy ở trẻ em mắc bệnh tả.

Phòng ngừa

Những thói quen sinh hoạt giúp phòng ngừa bệnh tả:

Rửa tay bằng xà phòng và nước thường xuyên, đặc biệt là sau khi đi vệ sinh và trước khi chế biến thức ăn. Nếu không có xà phòng và nước, có thể sử dụng chất khử trùng tay có cồn.
Uống nước đun sôi hoặc đã được khử trùng.
Ăn thực phẩm còn nóng và được nấu chín hoàn toàn, tránh những thực phẩm bán hàng rong ngoài đường không đảm bảo vệ sinh
Tránh ăn sushi, các món hải sản sống
Gọt vỏ trái cây, rau quả trước khi ăn, chẳng hạn như chuối, cam, nho
Cảnh giác với các thực phẩm từ sữa, bao gồm cả kem và sữa chưa tiệt trùng.
Vắc-xin: vắc-xin tả dùng qua đường uống an toàn và hiệu quả. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm chủng của các nhóm có nguy cơ cao như trẻ em, người bị nhiễm HIV, ở những quốc gia mà bệnh tả vẫn còn nhiều. Ở nước ta hiện nay, vắc xin tả được sử dụng là vắc xin mORCVAX. Đây là vắc xin được điều chế từ các chủng vi khuẩn tả 01 (gồm týp sinh học cổ điển và EI Tor) và chủng vi khuẩn tả 0139, được chỉ định để phòng bệnh tả cho trẻ em trên 2 tuổi và người lớn sống trong vùng dịch tả lưu hành. Lịch uống cơ bản gồm 2 liều, cách nhau tối thiểu 2 tuần (14 ngày).

Để chủ động phòng, chống bệnh tả, Bộ Y tế khuyến cáo mạnh mẽ người dân thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau:

1. Người về từ các quốc gia, khu vực đang có sự gia tăng dịch bệnh tả:

– Cần chủ động theo dõi sức khỏe trong vòng 05 ngày.

– Nếu có bất kỳ dấu hiệu bất thường về sức khỏe (như nôn và tiêu chảy với số lượng lớn dẫn đến mất nước và điện giải trầm trọng, gây sốc nặng …) cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị kịp thời.

2. Người dân cần thực hiện tốt các nội dung sau:

– Vệ sinh cá nhân: Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh.

– Vệ sinh môi trường, thu gom rác, diệt ruồi.

– An toàn vệ sinh thực phẩm: Thực hiện ăn chín, uống sôi.

– Bảo vệ nguồn nước, dùng nước sạch.

– Khi có dấu hiệu bất thường về sức khỏe (như nôn và tiêu chảy với số lượng lớn dẫn đến mất nước và điện giải trầm trọng, gây sốc nặng …) đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị. Không tự ý điều trị tại nhà.

3. Người dân khi đi du lịch, công tác tại các vùng bệnh tả đang tăng cao cần chủ động phòng, chống bệnh. Chủ động theodõi sức khỏe và thông báo cho cơ quan y tế khi có triệu chứng bệnh tả.

Tài liệu tham khảo

3. Leibovici-Weissman Y, Neuberger A, Bitterman R, Sinclair D, Salam MA, Paul M. Antimicrobial drugs for treating cholera. Cochrane Database Syst Rev. 2014;2014(6):CD008625. Xuất bản ngày 19 tháng 6 năm 2014. doi:10.1002/14651858.CD008625.pub2
4. Roy SK, Hossain MJ, Khatun W, et al. Zinc supplementation in children with cholera in Bangladesh: randomised controlled trial. BMJ. 2008;336(7638):266-268. doi:10.1136/bmj.39416.646250.AE
TỔNG ĐÀI ĐẶT LỊCH KHÁM BỆNH

1900585888 (bấm phím 1)