Home / Tài liệu - văn bản / Subcutaneous implantable cardioverter-defibrillator in primary and secondary prevention of sudden cardiac death: A meta-analysis.

Subcutaneous implantable cardioverter-defibrillator in primary and secondary prevention of sudden cardiac death: A meta-analysis.

 

Pacing Clin Electrophysiol. 2019 Aug 9. doi: 10.1111/pace.13774.

Subcutaneous implantable cardioverter-defibrillator in primary and secondary prevention of sudden cardiac death: A meta-analysis.

León Salas B1,2Trujillo-Martín MM1,2,3,4García García J5Ramallo Fariña Y1,2,3,4García Quintana A6Quirós López R3,7Serrano-Aguilar P2,3,4,8.

Abstract

BACKGROUND:

Subcutaneous implantable cardioverter-defibrillator (S-ICD) is gaining in popularity for primary and secondary prevention of sudden cardiac death. The objective was to evaluate the safety and clinical effectiveness of the S-ICD for prevention of sudden cardiac death compared to transvenous cardioverter-defibrillator (TV-ICD).

METHODS:

A systematic review with meta-analyses was performed. The electronic databases MEDLINE, EMBASE, SCI and Cochrane Central Register of Controlled Trials were consulted in March 2018 with no restrictions on publication date. Predefined criteria were used to determine inclusion of studies and to assess their methodologic quality.

RESULTS:

Ten longitudinal-observational studies with comparison group presenting moderate methodologic flaws were included (N = 7820). The combination of results indicates that health-related quality of life is not significantly different between S-ICD and TV-ICD groups (Physical health: MD = 2.90; 95% CI = -3.88, 9.68/Mental health: MD = 0.13; 95% CI = -2.11, 2.37). Mortality occurred in 4.4% of S-ICD patients and 5.9% of TV-ICD patients died (OR = 0.79; 95% CI = 0.50, 1.24). The incidence of infections (OR = 1.79; 95% CI = 0.93, 3.43) and inappropriate shocks (OR = 1.28, 95% CI = 0.91, 1.78) is not significantly different between both groups. The S-ICD reduces complications related to electrodes/leads (OR = 0.13, 95% CI = 0.05, 0.29) and has lower electrodes/leads movement compared with TV-ICD (OR = 0.26; 95% CI 0.10, 0.67). In contrast, pneumothorax is more likely in TV-ICD than S-ICD (OR = 0.17; 95% CI = 0.03, 0.97).

CONCLUSIONS:

S-ICD reduces electrodes/leads movement, electrodes/leads related complications and pneumothorax. Our study did not demonstrate a statistically significant difference in mortality, health-related quality of life and infection rate between S-ICD and TV-ICD. This article is protected by copyright. All rights reserved.

Bản dịch

MÁY KHỬ RUNG TIM CẤY DƯỚI DA TRONG PHÒNG NGỪA TIÊN PHÁT VÀ THỨ PHÁT TRONG ĐỘT TỬ DO TIM: MỘT PHÂN TÍCH GỘP.

TÓM TẮT

Đặt vấn đề:

Máy khử rung tim cấy dưới da (S-ICD) đang trở nên phổ biến để phòng ngừa tiên phát và thứ phát đột tử do tim. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá độ an toàn và hiệu quả lâm sàng của S-ICD để phòng ngừa đột tử tim so với máy khử rung tim tĩnh mạch (TV-ICD).

Phương pháp:

Một nghiên cứu có hệ thống với các phân tích tổng hợp đã được chúng tôi thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu được thu thập từ: MEDLINE, EMBASE, SCI và Cochrane từ tháng 3 năm 2018 (không giới hạn ngày công bố). Các tiêu chí được sử dụng để xác định kết quả nghiên cứu và chất lượng của phương pháp nghiên cứu.

Kết quả:

10 nghiên cứu quan sát dọc được đưa vào phân tích (N = 7820). Sau khi tổng hợp kết quả, chúng tôi thấy rằng chất lượng cuộc sống (yếu tố liên quan đến sức khỏe) không khác biệt đáng kể giữa hai nhóm S-ICD và TV-ICD. Ví dụ như: Sức khỏe thể chất (MD = 2,90; 95% CI = -3,88; 9,68) và Sức khỏe tâm thần (MD = 0,13; 95 % CI = -2.11, 2.37).

Biến cố tử vong ở mức 4,4% bệnh nhân S-ICD và 5,9% bệnh nhân TV-ICD (OR = 0,79; 95% CI = 0,50, 1,24). Trong khi các tiêu chí như nhiễm trùng (OR = 1,79; 95% CI = 0,93, 3,43) và sốc điện không phù hợp (OR = 1,28, 95% CI = 0,91, 1,78) lại không khác biệt đáng kể giữa hai nhóm.

S-ICD làm giảm các biến chứng liên quan đến sự di động điện cực – đạo trình (OR = 0,13, 95% CI = 0,05, 0,29) và có sự di động điện cực – đạo trình ít hơn so với TV-ICD (OR = 0,26; 95% CI 0,10, 0,67). Ngược lại, tràn khí màng phổi thường gặp trong TV-ICD hơn là S-ICD (OR = 0,17; 95% CI = 0,03, 0,97).

Kết luận:

S-ICD làm giảm di động điện cực/đạo trình, vì vậy làm giảm được biến chứng liên quan (ví dụ như tràn khí màng phổi). Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không chứng minh được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tử vong, chất lượng cuộc sống (sức khỏe) và tỷ lệ nhiễm trùng giữa S-ICD và TV-ICD.

Người dịch: BS Phạm Huỳnh Minh Trí

Khoa: Tim mạch lão học – BVĐKTT An Giang