Home / Tin tức / Thông tin Y khoa / Thông tin Y học / Magiê tiêm mạch trong nhồi máu cơ tim cấp

Magiê tiêm mạch trong nhồi máu cơ tim cấp

Intravenous magnesium for acute myocardial infarction.

Cochrane Database Syst Rev. 2007 Apr 18;(2):CD002755.

Li JZhang QZhang MEgger M.West China Hospital,Sichuan University, Chinese Cochrane Centre,Chengdu,Sichuan,China, 610041. lijing68@hotmail.com

Vấn đề: Tỷ lệ tử vong và bệnh tật do nhồi máu cơ tim cấp (AMI) vẫn còn cao. Magiê tiêm mạch dùng sớm sau khởi phát AMI là điều trị hỗ trợ nhiều hứa hẹn. Mâu thuẫn trong các kết quả từ các nghiên cứu trước đây và phân tích tổng hợp cần một xét duyệt hệ thống các chứng cứ sẵn có.

Mục tiêu: Xem xét hiệu quả của magiê tiêm mạch so với giả dược về tỷ lệ tử vong sớm và bệnh tật.

Chiến lược tìm kiếm: Chúng tôi tìm CENTRAL ( Tập 3, Thư viện Cochrane, 2006), MEDLINE (Tháng 1 năm 1966 đến tháng 6 năm 2006) và EMBASE (tháng 1-1980 đến tháng 6 năm 2006), và đĩa y sinh  học Trung Quốc (đĩa CBM) (Tháng 1 1978 đến tháng 6 2006) . Tìm kiếm trong một số tạp chí y khoa Trung Quốc có liên quan đến lĩnh vực tim mạch cho đến giữa năm 2006.

Tiêu chí chọn: Tất cả các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng so sánh magie tiêm mạch với giả dược dù có hay không liệu pháp tiêu sợi huyết kết hợp với điều trị thường qui và tử vong hoặc bệnh tật trong vòng 35 ngày kể từ ngày khởi phát AMI là đủ điều kiện để đưa vào phân tích.

Thu thập và phân tích dữ liệu: Hai nhà NC độc lập đánh giá chất lượng NC trích xuất dữ liệu bằng cách sử dụng một biểu mẫu thu thập chuẩn. Tỷ số Odds (OR) được sử dụng để gộp sự ảnh hưởng nếu thích hợp. Khi tính không đồng nhất của ảnh hưởng được tìm thấy, xem xét lại lâm sàng và phương pháp luận của các NC.

Kết quả chính: Đối với tỷ lệ tử vong sớm, đã có chứng cứ về tính không đồng nhất, phân tích tổng hợp ảnh hưởng cố định (AHCĐ) cho thấy không có sự khác biệt giữa magiê và nhóm giả dược (OR 0,99, KTC 95%  0,94-1,04), trong khi phân tích ảnh hưởng biến thiên (AHBT) cho thấy sự giảm đáng kể của magie so với giả dược (OR 0,66, KTC 95%  0,53-0,82). Phân tầng bằng thời gian điều trị (<6 giờ, 6 + giờ) để giảm tính không đồng nhất, phân tích cả hai mô hình AHCĐ và AHBT, cho thấy magie không có tác dụng đáng kể. Trong phân tích từng bậc, tỷ lệ tử vong sớm giảm ở những bệnh nhân không được điều trị kháng đông (OR = 0,73, KTC 95%  0,56-0,94, phân tích AHBT) và ở những người được điều trị ít hơn 75 mmol magiê (OR = 0,59, KTC 95%  0,49-0,70) trong nhóm magiê so với nhóm giả dược. Phân tích tổng hợp về kết cục phụ, với không có chứng cứ của tính không đồng nhất, cho thấy giảm tỷ lệ rung thất (OR = 0,88, KTC 95% 0,81-0,96), nhưng tăng tỷ lệ tụt huyết áp nặng (OR = 1,13, KTC 95%  1,09-1,19) và nhịp tim chậm (OR = 1,49, KTC 95%  1,26-1,77) khi so sánh magiê với giả dược. Không có sự khác biệt được quan sát đối với block tim (OR = 1,05, KTC 95%  0,97-1,14). Đối với những kết cục có bằng chứng về tính không đồng nhất, phân tích tổng hợp cả hai mô hình cố định và biến thiên cho thấy magiê có thể làm giảm nhịp nhanh thất (OR = 0,45, KTC 95%  0,31-0,66 phân tích AHCĐ; OR = 0,40 , KTC 95%  0,19-0,84 phân tích AHBT) và rối loạn nhịp nặng cần điều trị hoặc Lown 2-5 (OR = 0,72, KTC 95%  0,60-0,85 mô hình AHCĐ; OR = 0,51, KTC 95%  0,33-0,79 mô hình AHBT) so với giả dược. Không có sự khác biệt về hậu quả sốc tim giữa hai nhóm.

Kết luận của tác giả: Do khả năng sai lệch xuất bản và tính không đồng nhất của các NC, vì vậy cần diễn dịch kết quả một cách thận trọng. Với phân tích tổng hợp này, chúng ta nhận ra rằng: (1) không chắc rằng magiê có lợi trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở cả bệnh nhân điều trị sớm và ở những bệnh nhân được điều trị muộn, và cả ở những bệnh nhân đã được điều trị kháng đông; (2) không chắc rằng magiê sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong  khi được sử dụng ở liều cao (≥ 75 mmol), (3) liệu pháp magiê có thể làm giảm tần suất rung thất, nhanh thất, rối loạn nhịp nặng cần điều trị hoặc Lown 2-5, nhưng nó có thể làm tăng tỷ lệ tụt huyết áp nặng, nhịp tim chậm và đỏ bừng mặt, và (4) không chắc chắn về hiệu quả của magiê đối với tỷ lệ tử vong ở liều thấp (<75mmol) và đối với những bệnh nhân không được điều trị kháng đông.

Người dịch: BS Sang, khoa ICU – BVĐKTT An Giang

Advertisements

Check Also

TRIỂN KHAI MÁY ĐO MẬT ĐỘ XƯƠNG HOLOGIC DISCOVERY WI (MỸ) ĐỂ CHẨN ĐOÁN LOÃNG XƯƠNG.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *