Home / Tin tức / Thông tin Y khoa / Thông tin Y học / Kháng sinh trong Viêm xoang kéo dài ở trẻ em

Kháng sinh trong Viêm xoang kéo dài ở trẻ em

Antibiotics for persistent nasal discharge (rhinosinusitis) in children.

Cochrane Database Syst Rev. 2002;(4):CD001094.
Morris P, Leach A.
Ear Health and Education Unit, Menzies School of Health Research, Royal Darwin Hospital, PO Box 41096, Darwin, Northern Territory, Australia, 0811.peterm@menzies.edu.au

Vấn đề: Viêm xoang mũi (rhinosinusitis, Nasal discharge) rất phổ biến ở trẻ em. Viêm xoang mũi do sự viêm nhiễm của lớp niêm mạc của đường hô hấp trên, và thường do nhiễm trùng  hoặc dị ứng gây ra. 

Mục tiêu: Nhằm xác định hiệu quả của kháng sinh so với giả dược hoặc liệu pháp chuẩn trong điều trị viêm xoang mũi trong khoảng thời gian ít nhất 10 ngày ở trẻ em.

Chiến lược tìm kiếm: Tra cứu thông tin từ Trung tâm đăng ký các nghiên cứu có đối chứng Cochrane, MEDLINE, EMBASE, và tham khảo các bài báo có liên quan. Liên hệ các tác giả và Công ty Dược phẩm. Các dữ liệu cập nhật đến khoảng T2/2002

Tiêu chí lựa chọn: Tất cả các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhằm so sánh điều trị kháng sinh so với giả dược hoặc liệu pháp chuẩn. Các nghiên cứu có dùng những loại thuốc khác cũng được tuyển chọn nếu tất cả đối tượng tham gia đều dùng các loại thuốc này. Nếu dùng thêm hoặc thay thế bằng 1 kháng sinh khác thì xem như không hiệu quả. Các nghiên cứu có sự kết hợp hoặc so sánh dùng kháng sinh với phẫu thuật, hoặc chọc và rửa xoang thì không tính đến trong tổng quan này       

Thu thập và phân tích dữ liệu: Số liệu dược rút ra bởi riêng 1 tác giả thể hiện bởi 8 kết cục sau đây: thất bại về lâm sàng nói chung (kết cục chính), điều trị thất bại, không cải thiện, cải thiện lâm sàng, thời gian hết bệnh, các biến chứng, tác dụng phụ và thất bại về vi khuẩn học. Với biến số kết cục nhị phân của mỗi nghiên cứu riêng, giảm nguy cơ tuyệt đối hoặc tỉ lệ được dùng trong phân tích theo phân bổ ngẫu nhiên ban đầu (intention-to-treat analysis). Tổng hợp tỉ số nguy cơ trọng số (weighted risk ratio) và khoảng tin cậy 95% ( kiểu ảnh hưởng cố định) được tính bắng cách dùng nghịch đảo phương sai của mỗi nghiên cứu cho trọng số. (gói thống kê Cochrane, REVMAN phiên bản 4.1)

Kết quả chính: Toàn bộ có 6 nghiên cứu gồm 562 trẻ , so sánh giữa dùng kháng sinh với giả dược hoặc liệu pháp chuẩn. Chỉ có biến kết cục chính (thất bại trên lâm sàng) được báo cáo trong tất cà các nghiên cứu. Khoảng 40% trẻ được chọn ngẫu nhiên ghi nhận bị thất bại trên lâm sàng khi được xem xét 2 đến 6 tuần sau khi  phân bổ ngẫu nhiên. Tỷ lệ thất bại trong nhóm chứng (CER) thay đổi từ 22-71% (trung bình là 46%).  Ước tính tỷ số nguy cơ dùng kiểu phân tích  ảnh hưởng cố định là 0,75 (KTC 95% :  0.61 – 0.92 ). Không có bằng chứng về sự không đồng nhất giữa các NC thu thập. Tác dụng phụ xảy ra ở 4 trong số 189 trẻ trong nhóm chứng (trong 4 nghiên cứu). Nhiều trẻ điều trị kháng sinh có tác dụng phụ (17 trong số 330 trẻ), nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (RR 1.75, KTC 95% :0.63 – 4.82)

Kết luận của nhóm tác giả: Đối với trẻ viêm xoang mũi hoặc những trẻ lớn tuổi hơn có hình ảnh X-Quang xác định là viêm xoang, bằng chứng cho thấy dùng kháng sinh trong 10 ngày sẽ làm giảm khả năng kéo dài dai dẳng các đợt viêm xoang ngắn hoặc trung bình. Lợi ích điều trị dường như rất ít và cứ 8  được điều trị thì có 1 trẻ khỏi bệnh (NNT 8, KTC 95% :5 – 29). Lợi ích lâu dài không được ghi nhận. Kết luận này chỉ dựa vào số lượng nhỏ các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng và có lẽ cần thêm nhiều dữ liệu để xác định.

Người dịch : BS Nam Phương , Khoa Nhi – BVĐKTTAG

Advertisements

Check Also

TRIỂN KHAI MÁY ĐO MẬT ĐỘ XƯƠNG HOLOGIC DISCOVERY WI (MỸ) ĐỂ CHẨN ĐOÁN LOÃNG XƯƠNG.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *