Home / Tài liệu - văn bản / Tài liệu y học / Oxy liệu pháp trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Oxy liệu pháp trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

Oxygen Therapy in Acute Myocardial Infarction

Juan B Cabello, Amanda Burls, José I Emparanza, Susan E Bayliss, Tom Quinn

Cochrane Database of Systematic Reviews 2016 December 19, 12: CD007160

TỔNG QUAN: Oxy liệu pháp được sử dụng rất phổ biến trên BN được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp. Dù vậy, một số nghiên cứu hệ thống lại cho thấy rằng chúng ta vẫn còn thiếu khá nhiều bằng chứng thuyết phục để khẳng đinh giảm oxy máu có làm lan rộng vùng thiếu máu (hoặc nhồi máu) hay không. Thử nghiệm Cochrane đầu tiên thưc hiện năm 2010 kết luận rằng chưa có bằng chứng cho chỉ định “thở oxy” thường qui. Từ năm 2010, câu chuyện “thiếu chứng cứ cho chỉ định thở oxy thường qui” đã thu hút rất nhiều sự chú ý của các chuyên gia. Vì vậy, rất nhanh chóng sau đó, hàng loạt thử nghiệm về oxy liệu pháp đã được thực hiện cho BN nhồi máu cơ tim cấp. Điều này là cưc kỳ quan trọng cho việc cập nhật thử nghiệm Cochrane này.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: tiếp cận bằng chỉ định thở oxy thường qui cho tất cả BN có chẩn đoán NMCT cấp.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Chúng tôi tìm trong cơ sở dữ liệu của các nghiên cứu lớn theo từng thư mục (thời điểm 06/06/2015): Cochrane Central Register of Controlled Trials (CENTRAL) ở thư viện Cochrane, MEDLINE (OVID), Embase (OVID), CINAHL (EBSCO) và Web of Science (Thomson Reuters). Dữ liệu từ LILACS (Latin American and Caribbean Health Sciences Literature) là nghiên cứu cuối cùng cho đến tháng 09/2016. Chúng tôi liên hệ với nhiều chuyên gia để xác thực tính chính xác của các nghiên cứu này. Chúng tôi không loại bỏ bất cứ nguồn dữ liệu nào vì lý do bất đồng ngôn ngữ.

TIÊU CHUẨN CHỌN BỆNH: Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát được thực hiện trên BN nghi ngờ hoặc có bằng chứng chắc chắn NMCT (ST chênh lên hoặc không ST chênh lên) trong vòng 24 sau khi khởi phát triệu chứng. Can thiệp bằng oxy liệu pháp (ở áp lực bình thường) so sánh với khí trời sẽ được đánh giá và chọn lựa bằng cách loại trừ đi các liệu pháp kết hợp nhằm cung cấp mẫu chính xác nhất cho thử nghiệm.

THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH: 2 tác giả độc lập nghiên cứu cùng đề tài – tổng quan cho thấy rằng họ có cùng tiêu chuẩn chọn và độc lập trong quá trình phân tích ra kết quả cuối cùng. Chúng tôi tiếp cận phân tích nghiên cứu qua chất lượng của dữ liệu và thận trọng xem xét kỹ khả năng “chuyển hướng” xuôi theo kết luận Cochrane trong từng nghiên cứu. Kết cục chính đầu tiên là tỉ lệ tử vong. Đánh giá hiệu quả thường dùng là tỉ suất nguy cơ (RR) với khoảng tin cậy 95% (CI). Chúng tôi tiếp cận bằng phương pháp GRADE để đánh giá chất lượng bằng chứng, phương pháp GRADEprofiler để nhập dữ liệu và tạo bảng “Tóm tắt chứng cứ”.

KẾT QUẢ CHÍNH: Chúng tôi cập nhật khoảng tìm kiếm mới cho thử nghiệm với 5 nghiên cứu gồm 1173 BN, 32 BN tử vong. Tỉ suất nguy cơ (RR) tử vong chung do mọi nguyên nhân ở BN có thở oxy là 0.99 (95% CI từ 0.50 đến 1.95; 4 nghiên cứu, N=1123; I(2) = 46%; mức chứng cứ: rất thấp) và 1.02 (95% CI từ 0.52 đến 1.98; 4 nghiên cứu, N = 871; I(2) = 49%; mức chứng cứ: rất thấp) chỉ phân tích với những BN đã được xác định NMCT cấp. Một thử nghiệm đánh giá đau trực tiếp (không thuốc giảm đau), và 2 thử nghiệm đánh giá đau khi dùng thuốc giảm đau opiate. Thử nghiệm này cho thấy không có hiệu quả của thuốc giảm đau, với RR~0.97 trên BN dùng opioate (95% CI 0.78 to 1.20; 2 nghiên cứu, N = 250). Không đủ chứng cứ cho kết quả chung xét trên tử suất và giảm triệu chứng đau. Không có hiệu quả rõ ràng của oxy liệu pháp lên kích cỡ vùng nhồi máu (chứng cứ không phù hợp và chất lương không cao).

KẾT LUẬN TÁC GIẢ: Hiện nay, không có bằng chứng ngẫu nhiên có kiểm soát nào hỗ trợ cho giả thuyết ủng hộ dùng oxy liệu pháp thường quy trên BN NMCT cấp, và chúng ta lại càng không thể loại trừ được những tác hại có thể có do oxy liệu pháp gây ra cho BN. Vì vậy, những dữ liệu trên cung cấp thêm những bằng chứng chống lại oxy liệu pháp trên phương diện cải thiện tử suất và kết cục. Điều này giúp chúng ta đưa ra những quyết định lâm sàng đúng đắn hơn, thông suốt hơn. Những thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát như thế này cần được cập nhật cho những khuyến cáo điều trị sắp tới về việc sử dụng oxy liệu pháp một cách thường quy.

Người dịch: Phạm Huỳnh Minh Trí, Khoa Tim mạch, bệnh viện ĐKTT An Giang

Advertisements

Check Also

Các phương pháp điều trị kháng đông ở bệnh nhân rung nhĩ

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁNG ĐÔNG Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ ĐÃ CAN THIỆP …