Home / Tin tức / Thông tin Y khoa / Thông tin Y học / Nguy cơ viêm phổi liên quan với việc sử dụng thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin: Tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

Nguy cơ viêm phổi liên quan với việc sử dụng thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin: Tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

BMJ. 2012 Jul 11;345:e4260. doi: 10.1136/bmj.e4260.

Risk of pneumonia associated with use of angiotensin converting enzyme inhibitors and angiotensin receptor blockers: systematic review and meta-analysis. Caldeira DAlarcão JVaz-Carneiro ACosta J.

Source: Laboratory of Clinical Pharmacology and Therapeutics, Faculty of Medicine, University of Lisbon

Mục tiêu: Tổng quan hệ thống các nghiên cứu tiền cứu đánh giá việc sử dụng thuốc ức chế men  chuyển angiotensin (ACE), thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB) với nguy cơ viêm phổi.

Thiết kế: Tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp.

Nguồn dữ liệu: Medline trong PubMed, Web of Science với biên bản hội nghị (từ lúc đầu cho đến tháng 6 năm 2011), và trang web của Cục Quản lý Dược và Thực phẩm Hoa kỳ (tháng 6 năm 2011). Tìm thêm từ các tài liệu tổng quan và tài liệu tham khảo các bài báo.

Chọn lựa nghiên cứu: Hai nhà tổng quan độc lập chọn các nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng, nghiên cứu đoàn hệ và các nghiên cứu bệnh-chứng có đánh giá việc sử dụng các ACE hoặc ARB và nguy cơ viêm phổi. 

Dữ liệu tổng hợp: Kết cục chính là tỷ lệ mắc mới (incidence) bệnh viêm phổi và kết cục phụ là tử vong do viêm phổi. Phân tích phân nhóm cho các đối tượng có bệnh lý nền (đột quỵ, suy tim, bệnh thận mãn tính) và đặc điểm dân tộc (châu Á và ngoài châu Á). Ước tính tỉ số odds gộp với KTC 95% từ phân tích tổng hợp với mô hình ảnh hưởng biến thiên.Tính không đồng nhất giữa các nghiên cứu được đánh giá bằng cách sử dụng test I (2).

Kết quả: Có 37 nghiên cứu được tổng hợp. Thuốc ACE có liên quan với nguy cơ giảm đáng kể bệnh viêm phổi so với đối chứng (19 nghiên cứu: OR= 0,66, KTC 95%: 0,55 -0,80; I (2) = 79%) và ARB (OR trực tiếp+gián tiếp ước tính= 0,69, KTC 95%: 0,56-0,85). Ở những bệnh nhân bị đột quỵ, nguy cơ viêm phổi cũng thấp hơn ở những người được điều trị với ACE so với đối chứng (OR= 0,46, KTC 95%; 0,34 – 0,62) và ARB (OR = 0,42, KTC 95%: 0,22- 0,80). Thuốc ACE làm giảm nguy cơ đáng kể bệnh viêm phổi ở các bệnh nhân Châu Á (OR= 0.43, 0,34 đến 0.54) so ​​với bệnh nhân không phải gốc châu Á (OR = 0,82, 0,67 đến 1,00; P <0.001). So với nhóm chứng, cả hai loại thuốc ACE (có 7 nghiên cứu: OR = 0,73, 0,58 đến 0,92; I (2) = 51%) và ARB (một NC ngẫu nhiên: OR= 0,63, 0,40 đến 1.00) đều làm giảm tử vong do viêm phổi với các biện pháp can thiệp khác là giống nhau.

Kết luận: Các bằng chứng tốt nhất hiện có về vai trò của thuốc ACE, nhưng không thấy với thuốc ARBs, là làm giảm nguy cơ viêm phổi (*). Hiệu quả giảm viêm phổi tốt nhất trên quần thể bệnh nhân đột quỵ và người châu Á. Thuốc ACE cũng làm giảm tỷ lệ tử vong do viêm phổi, tuy nhiên  bằng chứng chưa mạnh.

(*)Chú thich người dịch: thuốc ức chế men chuyển làm giảm nguy cơ viêm phổi do có tác dụng tăng cường phản xạ ho.

Người dịch: BS Rạng, bvag.com.vn

Advertisements

Check Also

TRIỂN KHAI MÁY ĐO MẬT ĐỘ XƯƠNG HOLOGIC DISCOVERY WI (MỸ) ĐỂ CHẨN ĐOÁN LOÃNG XƯƠNG.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *