Home / Tin tức / Thông tin y khoa / Thông tin y học / Mối liên hệ giữa chiến lược truyền tĩnh mạch clorua tự do so với truyền dịch hạn chế và tổn thương thận ở người lớn bệnh nặng.

Mối liên hệ giữa chiến lược truyền tĩnh mạch clorua tự do so với truyền dịch hạn chế và tổn thương thận ở người lớn bệnh nặng.

JAMA. 2012 Oct 17;308(15):1566-72. doi: 10.1001/jama.2012.13356.

Association between a chloride-liberal vs chloride-restrictive intravenous fluid administration strategy and kidney injury in critically ill adults.

Yunos NMBellomo RHegarty CStory DHo LBailey M.

Source: Affiliations: Johor Bahru Clinical School, Monash University Sunway Campus, Malaysia.

Đặt vấn đề:

Truyền tĩnh mạch clorua truyền thống có thể thúc đẩy tổn thương thận cấp (TTTC). 

Mục tiêu:

Để đánh giá mối liên hệ giữa chiến lược truyền tĩnh mạch clorua hạn chế (so với tự do) và tổn thương thận ở bệnh nặng.

Thiết kế nghiên cứu và bệnh nhân:

Nghiên cứu tiền cứu, mở, tuần tự của 760 bệnh nhân liên tiếp vào đơn vị chăm sóc tích cực (ICU) trong thời gian kiểm soát (18/02/2008 đến 17/08/ 2008) so với 773 bệnh nhân nhập viện liên tiếp trong thời gian can thiệp (18/02/2009 đến 17/08/ 2009) tại một bệnh viện trường đại học Melbourne, Úc.

Can thiệp:

Trong thời gian kiểm soát, bệnh nhân được truyền dịch chuẩn. Sau 6 tháng (18/08/2008 đến 17/02/ 2009), sử dụng dung dịch clorua (nước muối 0,9%, dung dịch succinylate gelatin 4%, hoặc dung dịch albumin 4%) được giới hạn sử dụng trong thời gian can thiệp, bệnh nhân được truyền thay thế dung dịch Lactated (Hartmann giải pháp), một dung dịch cân bằng (Plasma-Lyte 148), và clorua albumin 20%.

Kết cục chính:

Kết cục chính bao gồm tăng mức creatinin từ nền đến đỉnh trong ICU và tăng tỷ lệ TTTC theo nguy cơ, tổn thương, suy, mất , giai đoạn cuối (RIFLE) phân loại. Phân tích kết cục tương quan ngẫu nhiên bao gồm sự cần thiết phải điều trị thay thế thận (RRT), thời gian nằm tại ICU và bệnh viện, và sống sót. Kết quả: Sử dụng Chloride giảm 144 504 mmol (từ 694 đến 496 mmol / bệnh nhân) từ giai đoạn kiểm soát đến giai đoạn can thiệp. So sánh giữa kiểm soát với can thiệp, nồng độ creatinin huyết thanh trung bình tại ICU tăng 22,6 mmol / L (KTC 95%, 17,5-27,7 mmol / L) so với 14,8 mmol / L (KTC 95% , 9,8-19,9 mmol / L) (p = 0,03), tỷ lệ tổn thương và suy thận được xác định theo RIFLE là 14% (KTC 95%, 11% -16%; n = 105) so với 8,4% (KTC 95%, 6,4% -10%, n = 65) (p <0,001); việc sử dụng các phương pháp thay thế thận là 10% (KTC 95%, 8,1% -12%; n = 78) so với 6,3% (KTC 95%, 4,6% -8,1 % n = 49) (p = 0,005). Sau khi hiệu chỉnh các hiệp biến, vẫn còn tổn thương thận cấp (OR, 0,52 [KTC 95%, 0,37-0,75], p <0,001) và sử dụng các phương pháp điều trị thay thế thận (OR, 0,52 [ KTC 95%, 0,33-0,81] p = 0,004). Không có khác biệt trong tỷ lệ tử vong bệnh viện, thời gian nằm viện hoặc ICU, hoặc cần điều trị thay thế thận sau khi xuất viện. 

Kết luận:

Việc áp dụng chiến lược truyền clorua-hạn chế trong ICU làm giảm đáng kể tỷ lệ tổn thương thận cấp và sử dụng các phương pháp điều trị thay thế thận.

Người dịch: BS Trung, khoa ICU Bệnh viện An giang

Advertisements

Check Also

Triển khai máy đo mật độ xương hologic discovery wi (mỹ) để chẩn đoán loãng xương.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *