Home / Tài liệu - văn bản / Tài liệu y học / So sánh nguy cơ NMCT và đột quỵ tái phát trên bệnh nhân có tiền sử đột quỵ do thiếu máu cục bộ (AIS) hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA): Một phân tích gộp và tổng quan hệ thống.

So sánh nguy cơ NMCT và đột quỵ tái phát trên bệnh nhân có tiền sử đột quỵ do thiếu máu cục bộ (AIS) hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA): Một phân tích gộp và tổng quan hệ thống.

Long-Term Risk of Myocardial Infarction Compared to Recurrent Stroke After Transient Ischemic Attack and Ischemic Stroke: Systematic Review and Meta-Analysis.

Boulanger M1,2Béjot Y3Rothwell PM2Touzé E4.

J Am Heart Assoc. 2018 Jan 18;7(2). pii: e007267. doi: 10.1161/JAHA.117.007267.

Đặt vấn đề:

Không thực sự rõ ràng về nguy cơ cùng mắc nhồi máu cơ tim (NMCT) sau đột quỵ thiếu máu não hay cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA).

Phương pháp và kết quả:

Chúng tôi tiến hành đánh giá có hệ thống để ước tính nguy cơ lâu dài của NMCT so với nguy cơ tái phát đột quỵ não, với các xu hướng về thời gian trên BN có tiền sử bị đột quỵ thiếu máu não cục bộ (AIS) và TIA. Rủi ro hàng năm và khoảng tin cậy 95% (95% CI) của NMCT và đột quỵ tái phát được ước lượng bằng các phân tích gộp ngẫu nhiên. Chúng tôi tính tỉ số xuất độ của NMCT/ đột quỵ tái phát và sử dụng các phân tích tương tự với các sự kiện gây tử vong và không tử vong. Tỉ lệ NMCT ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn so với những người còn lại được tính bằng phương pháp hồi quy Poisson. Tổng cộng có 58 nghiên cứu (131.299 bệnh nhân) với thời gian theo dõi trung bình 3,5 (1-10) năm. Nguy cơ NMCT là 1,67%/năm (KTC 95% 1,36-1,98; Phet <0,001 vì sự không đồng nhất) và giảm theo thời gian (Pint = 0,021); 96% tính không đồng nhất giữa các nghiên cứu được giải thích là do các nguyên nhân sau: cách thiết kế nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, thời gian theo dõi, tuổi trung bình, tỉ lệ bệnh nhân điều trị chống huyết khối và AIS/TIA. Nguy cơ đột quỵ tái phát là 4,26%/năm (95% CI 3,43-5,09; Phet <0.001), không thay đổi theo thời gian (Pint = 0,63). Nguy cơ NMCT gây tử vong chỉ bằng một nửa nguy cơ đột quỵ tái phát gây tử vong (tỉ lệ mắc = 0,51, KTC 95% 0,14-0,89; Phet = 0,58). Nguy cơ NMCT không tử vong ít hơn 75% so với nguy cơ đột quỵ tái phát không tử vong (tỉ số xuất hiện = 0,25; KTC 95% 0,02-0,50; Phet = 0,68). Nam giới, tăng huyết áp, bệnh mạch vành và động mạch ngoại biên là những yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc NMCT (tăng gấp đôi tỉ lệ mắc).

Kết luận:

Sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ hoặc TIA, nguy cơ mắc NMCT là dưới 2%/năm, và đột quỵ tái phát là nguyên nhân gây tử vong nhiều hơn NMCT.

Người dịch: BS Phạm Huỳnh Minh Trí – Khoa TMLH – BVĐKTT An Giang