Home / Tin tức / Thông tin Y khoa / Thông tin Y học / Làm thế nào và khi nào nên sử dụng thuốc kháng viêm không steroid để phòng ngừa viêm tụy sau nội soi mật tụy ngược dòng? một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

Làm thế nào và khi nào nên sử dụng thuốc kháng viêm không steroid để phòng ngừa viêm tụy sau nội soi mật tụy ngược dòng? một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

HOW AND WHEN SHOULD NSAIDs BE USED FOR PREVENTING POST-ERCP  PANCREATITIS? A SYSTEMATIC REVIEW AND META-ANALYSIS.

 Puig I1, Calvet X2, Baylina M3, Isava A4, Sort P4, Llaó J4, Porta F4, Vida F4.

Thuốc kháng viêm không steroid ( NSAIDs) đã được chứng minh là có hiệu quả để ngăn ngừa viêm tụy sau khi nội soi mật tụy ngược dòng ( ERCP). Tuy nhiên,  bệnh nhân đích,  loại NSAID,  đường dùng và thời điểm dùng thuốc vẫn còn chưa rõ ràng, cũng như hiệu quả thật sự trong việc giảm mức độ nặng của viêm tụy, thời gian nằm viện và tử vong. Mục tiêu của nghiên cứu là để đánh giá những câu hỏi này bằng cách thực hiện một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp .

Phương pháp:

Nhiều tìm kiếm đã được thực hiện trong cơ sở dữ liệu chính. Thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên ( RCT ) so sánh NSAIDs so với giả dược trong  phòng ngừa viêm tụy sau nội soi mật tụy ngược dòng được thu nhận. Tiêu chí chính của nghiên cứu là hiệu quả để phòng ngừa viêm tụy. Phân tích nhóm được thực hiện để xác định mức giảm nguy cơ ở những bệnh nhân có nguy cơ cao và thấp  và  xác định thời gian tối ưu, đường dùng , và loại NSAID . Tiêu chí thứ hai là an toàn, phòng ngừa viêm tụy  từ vừa đến nặng, giảm thời gian nằm viện và tử vong.

Kết quả:

Có chín thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên ghi danh 2133 bệnh nhân được thu nhận. Nguy cơ viêm tụy ở nhóm dùng thuốc NSAID thấp hơn so với nhóm dùng giả dược (RR 0,51, KTC 95%  0,39-0,66 ) . Số lượng cần thiết để điều trị là 14. Nguy cơ viêm tụy  từ trung bình đến nặng cũng thấp hơn ở nhóm dùng thuốc NSAID. (RR 0,46, KTC 95%  0,28-0,76 ). Không có các tác dụng phụ liên quan đến sử dụng thuốc NSAID được báo cáo. NSAIDs có hiệu quả trong cả hai nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao và không được chọn lựa (RR 0,53, KTC 95%  0,30-0,93 và RR 0.57, KTC 95%  0,37-0,88 ). Trong phân tích nhóm, chỉ  có đường dùng trực tràng hoặc indomethacin (RR 0,54, KTC 95%  0,38-0,75 ) hoặc diclofenac (RR 0.42, KTC 95%  0,21-0,84 ) đã được chứng minh là có hiệu quả. Không có đủ dữ liệu để thực hiện một phân tích tổng hợp giảm thời gian nằm viện. Không có trường hợp tử vong xảy ra.

Kết luận:

Một liều trực tràng duy nhất của indomethacin hoặc diclofenac trước hoặc ngay sau tức thì ERCP là an toàn và ngăn ngừa viêm tụy liên quan đến cả hai nhóm những bệnh nhân nguy cơ cao và ở những bệnh nhân không được chọn lựa.

Người dịch: BS CKII Phạm Chí Hiền – BVĐKTT An Giang

Advertisements

Check Also

TRIỂN KHAI MÁY ĐO MẬT ĐỘ XƯƠNG HOLOGIC DISCOVERY WI (MỸ) ĐỂ CHẨN ĐOÁN LOÃNG XƯƠNG.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *