Home / Tin tức / Thông tin y khoa / Thông tin y học / Điều trị nhiễm nấm da và móng chân bằng thuốc bôi

Điều trị nhiễm nấm da và móng chân bằng thuốc bôi

Topical treatments for fungal infections of the skin and nails of the foot.

Fay Crawford1, Sally Hollis2

1Division of Community Health Sciences, The University of Edinburgh, Edinburgh, UK. 2c/o Cochrane Skin Group, University of Nottingham, Nottingham, UK

Editorial group: Cochrane Skin Group.

Publication status and date: Edited (no change to conclusions), published in Issue 3, 2009.

Đặt vấn đề: Nhiễm nấm chân thường xảy ra ở lớp bề mặt da (thượng bì).vị trí thường bị nhiễm nấm là vùng da giữa các ngón gây đau và ngứa. Nhiễm nấm móng có thể ảnh hưởng toàn bộ các bản móng.

 

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị thành công  (tỉ lệ điều trị thất bại) của thuốc bôi điều trị nấm bàn và móng chân và trong điều trị dự phòng tái phát.

Chiến lược tìm kiếm: Chúng tôi tìm kiếm các bài đăng thuộc nhóm chuyên về da của Cochrane (Tháng 1/2005), từ Trung tâm đăng ký các bài thực nghiệm đối chứng Cochrane (Thư viện Cochrane số 1, 2005), MEDLINE và EMBASE (từ lúc bắt đầu đến tháng 1/2005). Chúng tôi xem qua các phần trích dẫn khoa học, BIOSIS, CAB – Health và Healthstar, CINAHL DARE, NHS dữ liệu đánh giá kinh tế và EconLit (tháng 3/2005). Các thư mục cũng được tìm kiếm.

Tiêu chí lựa chọn: Các thực nghiệm đối chứng ngẫu nhiên chọn những người được chẩn đoán nhiễm nấm da và móng chân.

Thu thập và phân tích dữ liệu: Hai tác giả độc lập tổng hợp các bài báo được chọn, , đánh giá chất lượng các bài báo bằng công cụ xử lý cấu trúc dữ liệu.

Kết quả: Có 144 bài báo được ghi nhận, gồm 67 thử nghiệm đáp ứng các tiêu chí lựa chọn. Tỉ số nguy cơ (RR) gộp điều trị nhiễm nấm da thất bại của các RCTs này: allylamines RR 0.33 (95% KTC 0.24 đến 0.44); azoles RR 0.30 (95% KTC 0.20 đến 0.45); ciclopiroxolamine RR 0.27 (95% KTC 0.11 to 0.66); tolnaftate RR 0.19 (95% KTC 0.08 đến 0.44); butenafine RR 0.33 (95% KTC 0.24 đến 0.45); undecanoates RR 0.29 (95% KTC 0.12 đến 0.70).Phân tích tổng hợp 11 nghiên cứu so sánh allylamines và azoles cho thấy tỉ số nguy cơ điều trị thất bại RR 0.63 (95% CI 0.42 to 0.94) của allylamines thấp hơn. Những bằng chứng về điều trị nhiễm nấm da bằng thuốc bôi thì rất ít.Có vài bằng chứng chỉ ra rằng ciclopiroxolamine và butenafine có cùng hiêu quả nhưng cả 2 đều phải dùng mỗi ngày trong một thời gian dài (ít nhất là 1 năm). 6 nghiên cứu thực nghiệm đưa ra bằng chứng ciclopiroxolamine bôi có mức độ điều trị kém đối với nấm móng và amorolfine bôi có hiệu quả cao hơn đáng kể nhưng cần có nhiều nghiên cứu thêm.

Kết luận của tác giả: Các thử nghiệm lâm sàng đối chứng cho thấy allylamines và azoles trong điều trị nhiễm nấm chân có tỉ lệ phần trăm khỏi bệnh cao hơn so với nhóm giả dược. Allylamines điều trị nhiễm nấm tốt hơn azoles và hiện nay có thể mua không cần kê toa.Cần có nhiều nghiên cứu trong tương lai để đánh giá hiệu quả các thuốc điều trị nấm móng.

Người dịch: BS Bích, khoa Da liễu – BVĐKTTAG

Advertisements

Check Also

Triển khai máy đo mật độ xương hologic discovery wi (mỹ) để chẩn đoán loãng xương.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *