Home / Tin tức / Thông tin y khoa / Thông tin y học / Anticholinergic dạng hít và nguy cơ tác dụng phụ trên tim mạch ở các bệnh nhân với bệnh phổi tắt nghẽn mãn tính (copd). một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

Anticholinergic dạng hít và nguy cơ tác dụng phụ trên tim mạch ở các bệnh nhân với bệnh phổi tắt nghẽn mãn tính (copd). một tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp

Singh, Yoon Loke K., Furberg D. Curt.Inhaled Anticholinergics and Risk of Major Adverse Cardiovascular Events in Patients With Chronic Obstructive Pulmonary Disease. A Systematic Review and Meta-analysis. JAMA. 2008; 300 (12) :1439-1450.

Đặt vấn đề: Anticholinergic dạng hít (ipratropium bromide hoặc tiotropium bromide) được sử dụng rộng rãi trong các bệnh nhân bị bệnh nghẽn phổi mãn tính (COPD) nhưng ảnh hưởng của nó về nguy cơ tim mạch là không rõ. 

Mục tiêu: Để xác định các nguy cơ tim mạch của anticholinergic dạng hít, bao gồm tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim (NMCT), và đột quỵ.
Nguồn dữ liệu: Tìm kiếm có hệ thống các dữ liệu được tiến hành ngày 19 tháng Ba năm 2008, các bài báo có liên quan trong MEDLINE, tổng quan các cơ sở dữ liệu có hệ thống của Cochrane, quyền hạn quy định các trang web ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, và đăng ký thử nghiệm  của nhà sản xuất không hạn chế ngày. 

Lựa chọn nghiên cứu: Các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng của bất kỳ thuốc anticholinergic dạng hít trong điều trị COPD đã điều trị ít nhất 30 ngày và ghi nhận các biến chứng tim mạch.
Khai thác dữ liệu: Kết cục chính bao gồm tử vong do tim mạch, NMCT, hoặc đột quỵ. Kết cục phụ là tất cả tử vong do nguyên nhân khác. Nguy cơ tương đối (RR) được ước tính bằng cách sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định và tính không đồng nhất được ước tính với thống kê I2. 

Tổng hợp dữ liệu: Sau khi sàng lọc chi tiết của 103 bài viết, 17 nghiên cứu bao gồm14 783 bệnh nhân đã được phân tích. Thời gian theo dõi từ 6 tuần đến 5 năm.Tử vong do tim mạch, NMCT, hay đột quỵ xảy ra ở 135 của 7.472 bệnh nhân (1,8%) điều trị bằng anticholinergic dạng hít và 86 của 7.311 bệnh nhân (1,2%) trong nhóm chứng (RR, 1,58 [KTC% , 1,21-2,06]; p < 0,001 , I2 = 0%). Trong số các bệnh nhân riêng lẻ của kết cục chính, anticholinergic dạng hít tăng đáng kể nguy cơ MI (RR, 1,53 [KTC 95% 1,05-2,23]; P = 0,03, I2 = 0%) và tử vong tim mạch (RR, 1,80 [KTC 95% , 1,17-2,77]; P =.008, I2 = 0%) mà không có một sự gia tăng đáng kể về mặt thống kê về nguy cơ đột quỵ (RR, 1,46 [KTC 95% , 0,81-2,62]; P = 0,20, I2 = 0%). Có 149 BN điều trị với anticholinergic dạng hít (2,0%) tử vong do các nguyên nhân khác và 115 BN tử vong ở nhóm chứng (1,6%) (RR, 1,26 [KTC 95%, 0,99-1,61]; P = 0,06, I2 = 2%). Một phân tích độ nhạy giới hạn từ 5 nghiên cứu dài hạn (> 6 tháng) xác nhận gia tăng nguy cơ  đáng kể về tử vong tim mạch, NMCT, hay đột quỵ (2.9% bệnh nhân được điều trị bằng anticholinergic dạng hít so với 1,8% số bệnh nhân trong nhóm chứng; RR, 1,73 [KTC 95% , 1,27-2,36]; P <0,001, I2 = 0%). 

Kết luận: Anticholinergic dạng hít kết hợp với một nguy cơ tăng đáng kể tử vong tim mạch, NMCT, hay đột quỵ trong những bệnh nhân COPD.

Người dịch: BS Trung, khoa ICU – BVĐKTT An Giang

Advertisements

Check Also

Triển khai máy đo mật độ xương hologic discovery wi (mỹ) để chẩn đoán loãng xương.

Từ ngày 13/6/2016, Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm An Giang triển khai máy đo …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *